|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-ST
Ngày 20 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Hưởng; Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Triệu Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tôn Ngọc T - Sinh ngày 15/01/1962, tại huyện V, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tôn Ngọc H; Con bà Nguyễn Thị T1 (đều đã chết); Vợ Vũ Thị P; Bị cáo có 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số: 18/HSST ngày 11/11/1992 của Tòa án Quân sự Quân khu 2 xử phạt 36 tháng tù về tội “Phá hủy công trình quan trọng về an ninh Quốc gia” và 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tại Bản án số: 06/PT2 ngày 14/4/1993 của Tòa án Quân sự Trung ương, sửa bản án sơ thẩm số 18/HSST ngày 11/11/1992 của Tòa án Quân sự Quân khu 2 tuyên miễn hình phạt cho bị cáo Tôn Ngọc T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đến ngày 07/4/1994 Tôn Ngọc T đã chấp hành xong hình phạt trở về địa phương (đã được xóa án tích); Quyết định số: 114/2019/QĐ-TA ngày 30/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng, ngày 14/6/2020 chấp hành xong, đã được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2024 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh L “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 21/5/2024, Tôn Ngọc T đang ở nhà thì nảy sinh ý định mua ma túy về để bán kiếm lời, Tôn Ngọc T đi bộ đến quán nước ven đường cách nhà Tôn Ngọc T khoảng 100 mét để ngồi uống nước, đến khoảng 10 giờ cùng ngày Tôn Ngọc T mượn 01 chiếc xe mô tô của một người nam giới (không biết rõ lai lịch, địa chỉ) đang ngồi uống nước, xe mô tô Tôn Ngọc T điều khiển xe đi đến nhà của Nguyễn Bá H1 (sinh năm 1969, trú tại thôn G, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai) để mua ma túy Heroine. Đến nơi Tôn Ngọc T mua được 02 gói ma túy của Nguyễn Bá H1 với giá 800.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong Tôn Ngọc T điều khiển xe mô tô về quán nước trả xe cho người nam giới, rồi đi bộ về nhà.
Đến khoảng 11 giờ 20 phút ngày 21/5/2024, có một người nam giới sử dụng số thuê bao 0396.180.684 gọi điện vào số thuê bao của Tôn Ngọc T là số 0945.726.231 để hỏi mua ma túy. Tôn Ngọc T hỏi người nam giới mua bao nhiêu thì người này nói muốn mua 01 gói và 04 tép, nghe vậy T đồng ý và hỏi người này “ biết chỗ chưa” người nam giới trả lời “biết rồi”. Sau đó Tôn Ngọc T dùng móng tay chia tách 01 gói ma túy ra thành 07 gói nhỏ, T cất 03 gói nhỏ trên nóc tủ trong phòng ngủ của T rồi cất 04 gói nhỏ vào túi quần đang mặc, dự định bán 100.000 đồng/gói và cầm ở tay trái 01 gói nilon có mép miết còn lại dự định bán 500.000 đồng rồi đi ra cửa nhà đứng chờ người nam giới đến mua. Khi Tôn Ngọc T đang đứng ở trước cửa nhà để chờ người nam giới đến mua ma túy thì bị tổ công tác của Công an tỉnh L đến yêu cầu kiểm tra, Tôn Ngọc T tự giác khai nhận trên người đang cất giấu ma túy. Tổ công tác mời ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1974 trú tại thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) làm người chứng kiến, trước sự có mặt của người chứng kiến Tôn Ngọc T tự giác giao nộp 01 gói nilon có mép miết, bên trong có 01 gói được gói bằng giấy bạc đựng chất bột khô, màu trắng, vón cục, kiểm tra phát hiện trong túi quần bên trái phía trước đang mặc 04 gói giấy bên trong đều chứa chất bột khô, màu trắng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tôn Ngọc T và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của Tôn Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp theo sim thuê bao số 0945726231, tiền Ngân hàng N1: 800.000 đồng.
Tiến hành khám xét nơi ở của Tôn Ngọc T, phát hiện thu giữ trên nóc tủ trong phòng ngủ của T 02 gói giấy bạc, 01 gói giấy bên trong đều chứa chất bột khô, màu trắng và 1.000.000 đồng tiền Ngân hành Nhà nước Việt Nam
Tại bản Kết luận giám định số: 209/GĐMT ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Tổng khối lượng mẫu M1, M2, M3 và M4 là 0,748 gam đều là chất ma túy Heroine (H).
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 134A/CT-VKS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Tôn Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 5 điều 251; Điểm s khoản 1điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Tôn Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Xử lý vật chứng vụ án, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận sáng ngày 21/5/2024, Tôn Ngọc T nảy sinh ý định mua ma túy về để bán kiếm lời, bị cáo mượn chiếc xe mô tô của một người nam giới đi đến nhà của Nguyễn Bá H1 (sinh năm 1969, trú tại thôn G, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai) để mua ma túy Heroine. Tôn Ngọc T mua của Nguyễn Bá H1 mua 02 gói ma túy Heroin với giá 800.000 đồng rồi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày có một người nam giới gọi điện thoại cho Tôn N để hỏi mua 01 gói và 04 tép, T đồng ý. Sau đó Tôn Ngọc T dùng móng tay chia tách 01 gói ma túy ra thành 07 gói nhỏ, T cất 03 gói nhỏ trên nóc tủ trong phòng ngủ của T rồi để 04 gói nhỏ vào túi quần đang mặc, dự định bán 100.000 đồng/gói và cầm ở tay trái 01 gói nilon có mép miết còn lại dự định bán 500.000 đồng rồi đi ra cửa nhà đứng chờ người nam giới đến mua thì bị tổ công tác của Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang. Khám xét nơi ở của Tôn Ngọc T, phát hiện thu giữ trên nóc tủ trong phòng ngủ của T 03 gói ma túy Heroin
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng ma tuý bị cáo mua để bán là 0,748 gam chất ma tuý Heroine. Như vậy, với hành vi và khối lượng ma túy như trên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái
phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Xét thấy bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy thu giữ được số tiền 1.800.000 đồng vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với Nguyễn Bá H1, Tôn Ngọc T khai số ma túy mà T bị thu giữ ngày 21/5/2024 là do T mua của Nguyễn Bá H1, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không làm rõ được vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Bá H1
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,547 gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong cần tịch thu tiêu huỷ; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Tôn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; Đối với số tiền 1.800.000 đồng của Tôn Ngọc T cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Tôn Ngọc T; Đối với 01 quận giấy bạc hình trụ tròn, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Bá H1 và tiền ngân hàng N1 3.560.000 đồng thu giữ của của Nguyễn Bá H1 không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Bá H1 là đúng quy định.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1, 5 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Tôn Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Tôn Ngọc T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù và 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 0,379 gam chất ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L trên một mặt bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Tôn Ngọc T tại thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 21/5/2024".
- + 0,168 gam chất ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L trên một mặt bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Tôn Ngọc T tại thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 21/5/2024”.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của Tôn Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, máy cũ đã qua sử dụng, máy có nhiều vết xước, vỡ, số S-ri 1: 356943091620253, lắp 01 thẻ sim
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Tôn Ngọc T số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) số tiền này đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.9049863 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L mở tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai.
- Trả lại cho bị cáo Tôn Ngọc T 01 căn cước công dân số [...] mang tên Tôn Ngọc T
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tôn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 148/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tôn Ngọc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
