Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HS-ST

Ngày 19-11-2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đỗ Văn Minh

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Thị T, sinh ngày 24/3/1958 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số F Q, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Phạm Thị N (đều đã chết); có chồng là Hoàng Văn H và 03 con, con lớn sinh năm 1980, con nhỏ sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2024; có mặt.

Người bài chữa cho bị cáo: Ông Trần Hữu K, Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

Bị hại:

- Chị Đỗ Thùy L, sinh năm 1995; nơi cư trú: C, V, Hải Phòng; vắng mặt.

- Cháu Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 11/4/2008; nơi cư trú: Số F Q, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người giám hộ: Chị Hoàng Thị Bích T2, sinh năm 1980, nơi cư trú: Số F Q, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng, là mẹ đẻ của cháu N1; có mặt.

Người làm chứng: Cháu Hoàng Phúc L1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cháu Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 01/4/2008 là cháu ngoại, sống cùng Hoàng Thị T tại số F Q, Sở Dầu, Hồ N, Hải Phòng. Tháng 9/2023, Hoàng Thị T có nói với cháu họ là Hoàng Phúc L1, sinh năm 2007, địa chỉ: Số A Q, Sở Dầu, Hồ N, Hải Phòng, là chủ sở hữu xe gắn máy BKS: 15AA – 290.19 có dung tích xi lanh 49cm³ giao xe cho N1 để sử dụng đi lại. Sau đó, T cho N1 số tiền 4.000.000 đồng mua xe gắn máy nêu trên của L1. Hàng ngày, N1 sử dụng xe gắn máy này làm phương tiện đi lại.

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/10/2023, cháu N1 điều khiển xe gắn máy BKS: 15AA-290.19, chở phía sau cháu Nguyễn Ngọc Hà A, sinh năm 2008, địa chỉ: Số C Q, Hoàng Văn T3, Hồ N, Hải Phòng đi trên đường T về phía đường L. Khi đến khu vực đối diện nhà số F lô A L trên đường T, xe gắn máy do N1 điều khiển va chạm với chị Đỗ Thùy L đang đi bộ sang đường, đẩy chị L về phía trước một đoạn rồi xe gắn máy đổ, chị L ngã ra đường nằm bất động, đầu chảy máu, N1 cũng bị ngã và ngất nhưng sau đó tỉnh dậy được ngay. Hà A không bị thương tích, N1 và chị L bị thương tích, được người dân đưa đi cấp cứu. Sau khi sự việc xảy ra, Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an quận H đã thụ lý vụ việc, đến ngày 26/10/2023 chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT – Công an quận H để giải quyết.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 195 ngày 11/3/2024 của Trung tâm P, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng N1 do gãy xương chính mũi hai bên là 09%. Thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 255 ngày 09/4/2024 của Trung tâm P, kết luận: Chị Đỗ Thùy L bị vết thương vùng chẩm trái; Vỡ xương chẩm phải; Khuyết xương thái dương trán trái; Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái; Xuất huyết dưới nhện; Đụng dập nhu mô não nền thùy trán phải và vùng thái dương trán trái. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân là 75%. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.

Tại Biên bản dựng lại hiện trường, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường T thuộc phường Đ, H, Hải Phòng. Đây là đường hai chiều, có dải phân cách cứng chia làn đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, mỗi chiều được dải nhựa áp

phan nhẵn, không có vạch kẻ, rộng 10,5m, dải phân cách rộng 3m. Nơi xảy ra tai nạn là khu vực đối diện nhà số F Lô A L, đường T, Đ, H, Hải Phòng, chiều từ đường B về đường L.

Xe gắn máy BKS: 15AA-290.19 đổ trên mặt đường, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép dải phân cách giữa đường T là 1,3m, tâm trục bánh sau cách đường tưởng tượng vuông góc với tâm chân cột điện chiếu sáng trên dải phân cách giữa đường T (đối diện nhà số F Lô A) là 12,9m. Đầu xe gắn máy quay hướng đường L. Vị trí chị Đỗ Thùy L nằm ngã trên mặt đường được xác định sát đầu xe gắn máy BKS: 15AA-290.19, đầu chị L quay về hướng đường L.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe gắn máy BKS: 15AA-290.19 đã xác định dấu vết cơ học của phương tiện trong vụ tai nạn giao thông. Tại bản Kết luận giám định số 251 ngày 29/11/2023 của Phòng K1 - Công an T5 thể hiện: Các dấu vết trượt xước kim loại, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng (dạng bột đá) ở đầu ngoài tay phanh bên phải, ở mặt ngoài càng giảm sóc bánh trước bên phải, ở đầu ngoài chân phanh; dập rách xước cao su bề mặt bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất) ở đầu ngoài tay lái bên phải và đầu ngoài bàn để chân phía trước bên phải trên xe gắn máy BKS: 15AA-29019 có đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết được hình thành khi xe đổ nghiêng bên phải và trượt trên mặt đường.

Trong quá trình điều tra, Hoàng Thị T khai nhận: Tha biết rõ ngày tháng năm sinh của N1 vì sống cùng ông bà ngoại từ nhỏ, N1 chưa đủ 16 tuổi nhưng N1 bị bệnh thận hư mãn tính, sức khỏe yếu, mẹ và bố dượng đi làm xa không đưa đi học được nên khoảng tháng 3/2023, T đã hỏi mua xe gắn máy BKS: 15AA-290.19 của cháu Hoàng Phúc L1 cho N1 sử dụng, L1 đồng ý. Đến khoảng tháng 9/2023, T bảo cháu L1 giao xe gắn máy trên cho N1, sau đó đưa tiền cho N1 để trả tiền cho L1 và lấy xe gắn máy về và giao cho N1 sử dụng xe gắn máy làm phương tiện đi lại hàng ngày.

Tại Cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 15/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo điểm c khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị T từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi của cháu Nguyễn Hoàng N1 Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của chị Đỗ Thùy L, Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Ông Hoàng Văn H là ông ngoại của N1, chị Hoàng Thị Bích T2 là mẹ đẻ của N1 và anh Nguyễn Minh T4 là bố dượng của N1 biết N1 chưa đủ tuổi lái xe gắn máy theo quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng không phải là người đã giao xe gắn máy cho N1 điều khiển nên không đủ căn cứ xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe gắn máy BKS: 15AA-29019, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2121 ngày 13/9/2024, trả lại chiếc xe này cho người giám hộ của N1 là chị Hoàng Thị Bích T2 - mẹ của N1.

Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Thị T và gia đình đã bồi thường cho chị Đỗ Thùy L số tiền 330.000.000 đồng, chị L không có đề nghị nào khác về vấn đề dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T. Cháu Nguyễn Hoàng N1 không yêu cầu Hoàng Thị T bồi thường về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T. Đối với xe gắn máy BKS: 15AA-29019, cháu N1 không yêu cầu chị L bồi thường về dân sự.

Bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị HĐXX miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng về tội danh, điều luật áp dụng. Tuy nhiên mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên là quá cao. Xét điều kiện, nguyên nhân bị cáo phạm tội: Do nhận thức về pháp luật hạn chế không biết việc cho tiền cháu để mua xe khi cháu chưa đủ tuổi điều khiển xe là phạm tội, xuất phát từ thương cháu bệnh tật. Khi xảy ra tai nạn bị cáo mới nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại cũng có lỗi một phần, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền hoặc mức thấp nhất, thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên. Phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại là chị L vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy bị hại đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

· Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, kết quả dựng hiện trường, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 9/2023, Hoàng Thị T biết rõ cháu Nguyễn Hoàng N1 chưa đủ 16 tuổi, không đủ tuổi lái xe gắn máy theo quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng vẫn cho N1 tiền mua xe gắn máy có dung tích xi lanh dưới 50cm³ BKS 15AA – 290.19 của Hoàng Phúc L1 và giao xe cho N1 sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2023 tại khu vực đối diện nhà số F Lô A L, đường T, Đ, H, Hải Phòng, cháu N1 điều khiển xe gắn máy BKS 15AA-290.19 đâm vào chị Đỗ Thùy L đang đi bộ qua đường. Hậu quả, chị L bị thương tích tổn hại 75% sức khỏe, bản thân N1 bị thương tích tổn hại 09% sức khỏe. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo đã vi phạm tại khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ: “1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định tại Điều 60 của Luật này...” và điểm a khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ: “1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau: a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi – lanh dưới 50 cm³”.

[5] Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo gây hậu quả cháu N1 bị thương tích tổn hại 09% sức khỏe và chị L bị thương tích 75%. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của cháu N1 và chị L là 84%. Vì vậy, bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[6] Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhân thân tốt vì ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.

- Về hình phạt:

[7] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người bị hại cháu N1 cũng có lỗi khi chưa đủ 16 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích dưới 50cm³, chị L sang đường không đúng nơi quy định và đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Thị T. Ngoài ra, bị cáo có chồng là ông Hoàng Văn H được Chủ tịch UBND thành phố H tặng Bằng khen và Chủ tịch UBND quận H tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào Toàn dân bảo vệ anh ninh tổ quốc giai đoạn 2019 - 2024 nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có khả năng tự cải tạo. Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông trên cũng có phần lỗi của bị hại. Vì vậy, cần xem xét khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và công tác phòng ngừa tội phạm nói chung.

[9] Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 264 Bộ luật hình sự.

- Về vật chứng:

[10] Đối với xe gắn máy BKS: 15AA-290.19: Kết quả xác minh xác định . bị cáo Hoàng Thị T đã mua lại chiếc xe này của L1 và giao cho Nguyễn Hoàng N1 sử dụng nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2121 ngày 13/9/2024, trả lại chiếc xe này cho người giám hộ của N1 là chị Hoàng Thị Bích T2 - mẹ của N1 theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với cháu Nguyễn Hoàng N1 điều khiển xe gắn máy khi chưa đủ 16 tuổi, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi thấy có người đi bộ qua đường, đâm vào chị Đỗ Thùy L, hậu quả làm chị L bị thương tích tổn hại 75% sức khỏe, hành vi của N1 đã vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ của Bộ G; khoản 4 Điều 11, khoản 2 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, thời điểm xảy ra vụ tai nạn, N1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật

Hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý N1 về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

[12] Đối với chị Đỗ Thùy L đi bộ qua đường tại nơi không có đèn tín hiệu, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, không đảm bảo an toàn, dẫn đến hậu quả va chạm với xe gắn máy do cháu Nguyễn Hoàng N1 đang điều khiển làm cháu N1 bị thương tích tổn hại 09% sức khỏe, hành vi của chị L vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ, Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

[13] Ông Hoàng Văn H là ông ngoại của N1, chị Hoàng Thị Bích T2 là mẹ đẻ của N1 và anh Nguyễn Minh T4 là bố dượng của N1 biết N1 chưa đủ tuổi lái xe gắn máy theo quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng không phải là người đã giao xe gắn máy cho N1 điều khiển nên không đủ căn cứ xử lý.

[14] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho chị Đỗ Thùy L số tiền 330.000.000 đồng, chị L không có đề nghị nào khác về vấn đề dân sự. Cháu Nguyễn Hoàng N1 không yêu cầu Hoàng Thị T bồi thường về dân sự và không yêu cầu chị L bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[15] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 264, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận H nhận được quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Hoàng Thị T cho Ủy ban nhân dân phường S, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường S, quận H, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án cải tạo không giam giữ vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

- Về án phí: Căn cứ 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12,14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Thị T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo, bị hại là cháu Nguyễn Hoàng N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại là chị Đỗ Thùy L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - CQĐT - Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV 06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 148/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger