TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 148/2024/HS-ST Ngày: 06-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông Đỗ Văn Kha
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Quản Văn Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH P; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1989, tại: tỉnh Hà Tĩnh; giới tính; Nam; nơi đăng ký thường trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Đình M, sinh năm: 1951 và bà Trần Thị M1, sinh năm: 1957; Vợ: Tôn Nữ Kim N, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 139/2021/HSST, ngày 21 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Đình P 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2022; chưa chấp hành án phí.
Nhân thân: Bản án số 172/2019/HSST, ngày 20/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt chung là 06 năm tù. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2013; chấp hành án phí hình sự; dân sự ngày 28/8/2029 và bồi thường thiệt hại.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 4 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Trần Thị Minh N1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, xin vắng mặt.
- + Trần Linh T, sinh năm 1989; HKTT: ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: số B đường G, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Thân Duy T1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- + Thạch Hoàng Khánh D, sinh năm: 1992, Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- + Ngô Tùng C, sinh năm 1959; Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình P thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Chiều ngày 28/7/2022, Nguyễn Đình P và Thân Duy T1 sau khi chơi bida quán B thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ thì đi về. Khi đi đến phía ngoài cửa của quán B thì P phát hiện 01 xe mô tô hiệu Dream biển số 93F3-5562 của Trần Linh T không có người trông coi, bên cạnh có chìa khóa rơi xuống đất. Lúc này, P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên bán lấy tiền tiêu xài. P đưa chìa khóa xe mô tô của P cho T1 và nói T1 chạy xe mô tô của P về nhà của T1 trước. Sau đó, P đi đến nhặt chìa khóa dưới đất rồi cắm chìa khóa vào xe mô tô biển số 93F3-5562, mở khóa nổ máy chạy về nhà T1 và gửi chiếc xe trên tại nhà của T1. P liên hệ với Thạch Hoàng Khánh D để bán chiếc xe trên nhưng do D đang đi làm ở huyện L, tỉnh Bình Phước nên P quay lại nhà của T1 lấy xe mô tô biển số 93F3-5562 điều khiển xe đến khu vực đường H và bán chiếc xe trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 3.500.000 đồng. Số tiến bán xe mô tô biển số 93F3-5562 Phước tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ ngày 15/4/2024, do không có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Đình P nảy sinh ý định đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để trộm cắp tài sản. P một mình đi bộ đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B, trèo tường rào vào bên trong Bệnh viện rồi đi lên tầng 5 thuộc Khoa nội của Bệnh viện. Khi đi đến phòng số 6, P quan sát thấy cửa ngoài không khóa nên đi vào bên trong phòng. P thấy chị Trần Thị Minh N1 đang nằm ngủ trên giường bệnh bên cạnh có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max 256 GB màu xanh đen để ở trên quạt hơi nước và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 dung lượng 128 GB màu xanh đen để phía dưới gối của chị N1 nên P đi đến lấy trộm 02 điện thoại di động trên bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Tại nhà, P kiểm tra chiếc điện thoại di động hiệu OPPO lấy trộm của chị N1 thì thấy sau ốp lưng điện thoại có số tiền 4.000.000 đồng (gồm 08 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng). Số tiền này, P lấy tiêu xài cá nhân hết 1.500.000 đồng. Đến 09 giờ cùng ngày, khi biết hành vi của mình bị phát hiện, lực lượng Công an đang truy tìm nên P đến Công an phường T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 50 ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tô tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô hiệu FASHION loại xe Dream biển số 93F3-5562 còn hoạt động bình thường trị giá 3.500.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23 ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax màu xanh rêu, dung lượng 256GB máy đã qua sử dụng còn hoạt động bình thường trị giá 5.900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 dung lượng 128GB màu xanh đen đã qua sử dụng còn hoạt động bình thường trị giá 2.200.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đình P mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Trách nhiệm dân sự và vật chứng: Bị hại Trần Thị Minh N1 đã nhận 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 Pro Max; 01 điện thoại di động hiệu OPPO reno 5 và số tiền 2.500.000 đồng, chị N1 không có yêu cầu gì về bồi thường nên không đặt ra; Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Trần Linh T số tiền 3.500.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Đình P khai nhận hành vi phạm tội; không tranh luận; xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Nguyễn Đình P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/7/2022, tại quán B thuộc khu phố A, phường T, bị cáo Nguyễn Đình P chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 93F3-5562 của anh Trần Linh T có giá trị 3.500.000đồng; Ngày 15/4/2024, tại phòng số 6, Khoa nội Bệnh viện đa khoa tỉnh B bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 pro Max; 01 điện thoại di động hiệu OPPO reno 5 và số tiền 4.000.000 đồng của chị Trần Thị Minh N1 có giá trị là 12.100.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 15.600.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình P đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Nguyễn Đình P là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi đã cố ý thực hiện, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của những người bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương, nguy hiểm cho xã hội.
Bản thân bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tài sản của công dân và bị Tòa án xét xử, hiện theo Bản án số 139/2021/HSST, ngày 21/5/2021 chưa được xóa án tích, nhưng không có hướng sửa chữa sai lầm, không biết ăn năn hối cải, tiếp tục đi vào con đường phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, khó giáo dục cải tạo. Hơn nữa, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, mỗi lần giá trị tài sản trên hai triệu đồng. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, tự nguyện ra đầu thú nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng.
[3] Đối với Trần Duy T2 là người cho P gửi xe mô tô biển số 93F3- 5562 nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có; Thạch Hoàng Khánh D ban đầu đồng ý giúp P bán xe mô tô biển số 93F3-5562 nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có và sau đó P đã tự mình bán chiếc xe trên. Do đó, không đặt vấn đề xử lý đối với T2 và D.
[4] Trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:
- - Bị hại Trần Thị Minh N1 đã nhận 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 pro Max; 01 điện thoại di động hiệu OPPO reno 5 và số tiền 2.500.000 đồng; chị N1 không yêu cầu gì thêm về bồi thường nên không xem xét giải quyết;
- - Bị hại Trần Linh T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, bị cáo đồng ý nên ghi nhận và buộc bị cáo bồi thường.
[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Nguyễn Đình P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Đình P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2024.
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Buộc Nguyễn Đình P phải bồi thường cho bị hại Trần Linh T số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày thỏa thuận có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Nguyễn Đình P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 148/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
