|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/ HNGĐ-ST.
Ngày: 30/9/2024
“V/v xin ly hôn, chia tài sản chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hùng
2. Ông Phan Kiên Nhẫn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Lan
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình không tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số: 361/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, về việc tranh chấp: “Xin ly hôn, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Yến N, sinh năm: 1998 (Có mặt)Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Hồ N1, là luật sư của Công ty L và cộng sự - Thuộc đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long. Bị đơn: Anh Lưu Hoàng P, sinh năm 2000 (Có mặt)Địa chỉ: ấp F, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Thị Yến N trình bày: Tôi và anh Lưu Hoàng P qua mai mối được cha mẹ hai bên chấp thuận tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V vào ngày 12/12/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng tụ tập bàn bè ăn chơi và sử dụng ma tuý, cha mẹ hai bên nhiều lần hoà giải khuyên can để anh P từ bỏ ma tuý làm lại cuộc đời cùng tôi chăm lo xây dựng gia đình nhưng không có kết quả. Tôi bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 3 năm 2024 đến nay, mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến cuộc sống nhau nữa, nay tôi nhận thấy tình cảm không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với anh Lưu Hoàng P. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Lưu Hoàng P có yêu cầu phản tố trình bày: Về quan hệ hôn nhân tôi và chị Yến N qua mai mối, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống có nhiều mẫu thuẫn không thể hàng gắn được là đúng, nay chị N yêu cầu ly hôn tôi đồng ý.
Về con chung: Không có con chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: cha mẹ cho 40 chỉ vàng 24K (loại vàng 9999) trong ngày cưới và đôi bông tai hột xoàn trị giá 3000USD. Nay tôi yêu cầu chia đôi số vàng cưới mỗi người nhận 20 chỉ vàng 24K (loại vàng 9999), đôi bông tai tôi đồng yêu cầu chia đôi mỗi người nhận một chiếc. Giá vàng hiện tại có giá 7.500.000đ/01 chỉ vàng 24K. Tại phiên toà nguyên đơn chị Lê Thị Yến N trình bày: Vẫn bảo lưu yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn với anh Lưu Hoàng P, về con chung không có không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Tôi thừa nhận cha mẹ chồng có cho 40 chỉ vàng 24K (loại vàng 9999) và đôi bông tai hột xoàn trong ngày cưới như anh P trình bày là đúng. Tuy nhiên sau ngày cưới tôi và anh P thuê nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống được khoảng 45 ngày, nhưng không ai có việc làm ổn định nên tôi có hỏi anh P và ba chồng cho tôi bán số vàng cưới lấy tiền làm vốn kinh doanh thời trang bán online, thấy anh P không trả lời nghĩ là đồng ý, tôi đã bán hết 40 chỉ vàng cưới để làm vốn kinh doanh và chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày của vợ chồng, nhưng buôn bán thua lỗ và chi phí cho sinh hoạt, chi tiêu hàng ngày của vợ chồng khoảng 30.000.000đ trong thời gian 45 ngày. Nay anh P yêu cầu chia đôi mỗi người 20 chỉ vàng 24K, tôi đồng ý trả lại cho anh P, nhưng anh P phải có nghĩa vụ chia đôi với tôi số tiền sinh hoạt phí và ăn uống hàng ngày mỗi người 15.000.000đ, sau khi thanh lý hết hàng tồn tôi sẽ trả lại 20 chỉ vàng 24K theo yêu cầu của anh P. Tôi thống nhất giá vàng tại thời điểm xét xử là 7.500.000đ/ 01 chỉ vàng 24K. Đối với yêu cầu xin rút lại yêu cầu chia đôi bông tai hột xoàn của anh P, chị N thống nhất không có ý kiến. Bị đơn anh Lưu Hoàng P trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện của chị N yêu cầu ly hôn tôi đồng ý, do vợ chồng không hợp tính tình, ít có trao đổi với nhau, về con chung vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Tôi yêu cầu chị N có nghĩa vụ giao lại cho tôi 20 chỉ vàng 24K (loại vàng 9999) là tài sản cha mẹ cho trong ngày cưới, chị N cho rằng đã bán hết là không có căn cứ, do chị N có hỏi tôi và ba mẹ tôi không đồng ý. Chị N yêu cầu tôi chia đôi số tiền 30.000.000₫ sinh hoạt ăn uống hàng ngày, tôi không đồng ý vì mỗi tuần tôi vẫn đưa tiền cho chị N chi tiêu từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ. Riêng đôi bông tai hột xoàn tôi xin rút lại không yêu cầu chia để lại cho chị N tiếp tục sử dụng.
Giá vàng 24K (loại vàng 9999) hiện tại có giá 7.500.000đ/ 01 chỉ vàng 24K.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn do ông Trần Hồ N1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N với anh P. Về con chung: không có không yêu cầu.
Về tài sản chung: 40 chỉ vàng 24K là tài sản chung của vợ chồng cha mẹ cho trong ngày cưới, chị N chấp nhận một phần yêu cầu của anh P chia mỗi người 20 chỉ vàng 24K, tuy nhiên chi phí sinh hoạt 01 tháng 15 ngày với số tiền 30.000.000đ chị N chi hàng ngày cho sinh hoạt của vợ chồng, chia đôi mỗi người 15.000.000đ, anh P có nghĩa vụ hoàn trả cho chị N. Đối với đôi bông tai hột xoàn anh P không yêu cầu nhận lại là sự tự nguyện của anh P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình không tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp “xin ly hôn, chia tài sản chung” giữa nguyên đơn chị Lê Thị Yến N và bị đơn anh Lưu Hoàng P thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lưu Hoàng P yêu cầu chia đôi bông tai hột xoàn giá trị 3.000USD, tại phiên toà anh P xin rút yêu cầu chia đôi bông tai hột xoàn đồng ý cho chị N tiếp tục sử dụng, việc rút một phần yêu cầu của anh P là hoàn toàn tự nguyện không trái với quy định của pháp luật nên được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Yến N và anh Lưu Hoàng P qua mai mối, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 09 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh P là hợp pháp. Trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Cha mẹ hai bên nhiều lần hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, chị N và anh P đã sống ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2024 đến nay, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc thuận tình ly hôn giữa chị N và anh P là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Yến N và anh Lưu Hoàng P là phù hợp theo Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung: Không có, nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Chị N và anh P thống nhất tài sản chung được cha mẹ chồng cho trong ngày cưới là 40 chỉ vàng 24K (loại vàng 9999) và đôi bông tai hột xoàn. Tại phiên toà chị N đồng ý giao lại cho anh P 20 chỉ vàng 24K, tuy nhiên anh P có nghĩa vụ chia đôi số tiền sinh hoạt phí trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau khoảng 01 tháng rưỡi, chị N sử dụng số tiền 30.000.000đ từ tiền bán vàng để chi tiêu sinh hoạt hàng ngày của hai người, nên anh P có nghĩa vụ trả lại cho chị 15.000.000đ. Tuy nhiên anh P không đồng ý theo yêu cầu của chị N, do mỗi tuần anh đều có đưa tiền cho chị N từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ cho chị N chi tiêu. Tại phiên toà chị N cũng thừa nhận anh P có đưa tiền cho chị mỗi tuần, nhưng sau khi đưa tiền thì anh P mượn lại một nữa nên không đủ chi tiêu, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị N không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc sử dụng tài sản chung để chi tiêu sinh hoạt hàng ngày của vợ chồng cũng như đã bán toàn bộ vàng cưới của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó lời trình bày của chị N là không có cơ sở xem xét.
Xét, tại phiên toà chị N, anh P thống nhất tài sản chung của vợ chồng là 40 chỉ vàng 24K (9999) được cha mẹ chồng cho trong ngày cưới là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng được quy định tại các Điều 33, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, yêu cầu phản tố của anh P yêu cầu chia 20 chỉ vàng 24K (9999) là có cơ sở chấp nhận, buộc chị N có trách nhiệm hoàn lại 20 chỉ vàng 24K (loại 9999) là phù hợp.
[5] Về nợ chung, phải thu, phải trả: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
[6] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận một phần.
[7] Về án phí: Chị Lê Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, chị N, anh P phải chịu án phí chia tài sản chung theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 244; các Điều 266; 267 của Luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 09, 55, 33, 59 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn chị Lê Thị Yến N và bị đơn anh Lưu Hoàng P.
- Về con chung: không có con chung, không xem xét.
- Về chia tài sản chung: Chị Lê Thị Yến N được hưởng 20 (Hai mươi) chỉ vàng 24K (loại 9999). Buộc chị Lê Thị Yến N có trách nhiệm hoàn lại cho anh Lưu Hoàng P 20 (Hai mươi) chỉ vàng 24K (loại 9999).
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Lưu Hoàng P yêu cầu chia đôi bông tai hột xoàn trị giá 3.000USD với chị Lê Thị Yến N, do anh P tự nguyện rút yêu cầu.
- Về án phí: Buộc chị Lê Thị Yến N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Tổng cộng án phí chị N phải chịu là 7.800.000₫ (Bảy triệu tám trăm ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0014343 ngày 19/7/2024, tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Chị N còn phải nộp thêm số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng).
Buộc bị đơn Lưu Hoàng P phải chịu số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.375.000₫ (Chín triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0014417 ngày 11/9/2024, tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Hoàn trả lại cho anh P 1.875.000đ (Một triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Linh |
Bản án số 148/2024/ HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 148/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung
