Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HS-ST

Ngày: 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Bà Nguyễn Hồ Thanh Tuyền;
  • 2. Bà Võ Thị Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 589/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Võ Hiền T, sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, Tổ C, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Quốc Thượng H và bà Võ Thị Ngọc L; Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1997 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Căn hộ HR1 B3A.07, chung cư E, số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Võ Thị Xuân H1; Có chồng là Lee Wai M, sinh năm 1986 và có 02 con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Hữu N, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số B Đường số A, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: nhân viên văn phòng; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hữu D và bà Võ Thị Xuân H2; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Trần Đức L1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số A B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

  • Ông Huỳnh Thoại V, sinh năm 1999; Địa chỉ: ấp T, Thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).

  • Ông Trần Văn N1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A Đường G Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Hiền T và Nguyễn Thị Thanh T1 quen biết nhau vì T từng là nhân viên bán quần áo do Nguyễn Thị Thanh T1 làm chủ. Nguyễn Hữu Nghĩa là em họ của T1 nên T biết N thông qua T1. Trong một lần đi ăn chung thì T1, T và N có nói với nhau là T1, T và N đều đã từng sử dụng qua ma túy.

Nguyễn Thị Thanh T1 thuê căn hộ HR1 B3A.07, chung cư E, số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để ở.

Vào khoảng 16 giờ 35 phút, ngày 25/11/2023 T1 và T ngồi uống nước tại địa chỉ số B, Xóm C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì T rủ T1 mua ma túy về sử dụng. Thục và T1 bàn bạc và thống nhất về việc hùn tiền mua ma túy Ketamine, đưa về căn hộ ở Quận G do T1 thuê nêu trên để sử dụng. Thục sử dụng ứng dụng Messenger của T tên "Su Hi" nhắn tin qua Messenger tên "Chị T3" (V1) (không rõ nhân thân lai lịch) đặt mua 01 (một) gói ma túy khay với giá 3.000.000 đồng vào tài khoản số 0974633960 Ngân hàng M2 mang tên TRAN THI KIEU VY cho T để chuyển tiền mua ma túy. Lúc này T nhắn tin M1 cho bạn mình có tên F "Tường V2" nhờ V2 chuyển 3.000.000 đồng vào tài khoản số 0974633960, Ngân hàng M2 mang tên TRAN THI KIEU VY (Thục không nói cho V2 biết chuyển để mua ma túy). Sau đó Thục nhắn số tài khoản của V2 cho T1 qua M1 tên "Nguyễn Kim K" để T1 chuyển trả V2 3.000.000 đồng, tiền mua ma túy. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, có một thanh niên (không rõ lai lịch) đến trước nhà địa chỉ số B, Xóm C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh giao cho T 01 (một) gói ma túy, T bỏ vào túi xách màu đen đem về cất giấu trong phòng ngủ tại căn hộ của T1.

Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 27/11/2023, T nhắn tin M1 rủ Nguyễn Hữu N đến căn hộ của T1 để sử dụng ma túy, N đồng ý. Lúc này, T1 biết và đồng ý. Tuyền vào phòng ngủ lấy ma túy, T vào bếp lấy đĩa, ống hút và 01 thẻ visa để làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy chuẩn bị sẵn ma túy và dụng cụ để trên bàn sofa ở phòng khách chờ N đến. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi đi làm về thì N đi grap đến căn hộ của T1 thuê. Trong lúc ngồi ăn uống T có nói với N và T1 là "ăn xong rồi sử dụng ma túy, tiền ma túy chia 3, mỗi người 1.000.000 đồng trả lại cho T1" thì N, T1 và T đồng ý. Tuyền ăn xong trước nên qua bàn sofa nơi để ma túy và bộ dụng cụ, T1 lấy thẻ Visa cà nhuyển ma túy ra, sau đó cầm đĩa sứ có chứa ma túy Ketamine dùng thẻ nhựa kẻ 02 đường sử dụng, xong T1 đưa cho T và N lần lượt cùng sử dụng.

Quá trình sử dụng ma túy T, T1 và N mở loa nghe nhạc lớn nên vào lúc 23 giờ 00 ngày 27/11/2023, Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu N có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại bàn Sofa ở phòng khách của căn hộ. Thu giữ trên bàn Sofa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu các đối tượng khai nhận là ma túy Ketamine; 01 đĩa sứ màu trắng bên trên có dính chất bột màu trắng; 01 ống hút nhựa có dính bột màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ Visa có dính bột màu trắng và 01 loa màu xanh nhãn hiệu JBL.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu N dương tính với chất ma túy.

Cơ quan cảnh sát điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 42/LKX - CSĐT(MT) ngày 30/11/2023 đối với chổ ở của T1 tại căn hộ HR1B3A.07 Chung cư E, sô A N, Khu phố A, phường T, Quận G, kết quả không thu giữ đồ vật gì.

Kết luận giám định số 13364/KL - KTHS ngày 05/12/2023 của Phòng K1 - Công an Thành phố H (PC09): 01 (một) gói nylon chứa bột màu trắng (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5697 gram, loại Ketamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1744 gram, loại Ketamine; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, 01 thẻ nhựa, 01 đĩa sứ màu trắng, đều dính bột màu trắng (ký hiệu mẫu m3) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,0251 gram, loại Ketamine.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (Một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu.

  • 01 (Một) gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng (chất bột màu trắng trong đĩa sứ màu trắng tại bàn Sofa được thu gom vào 01 gói nylon có sự chứng kiến của T1, T, N).

  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa bên trong có dính chất bột màu trắng.

  • 01 (Một) thẻ nhựa màu xanh có chữ Visa có dính chất bột màu trắng.

  • 01 (Một) đĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có dính chất bột màu trắng.

  • 01 (Một) loa màu xanh nhãn hiệu JBL (cũ, đã qua sử dụng).

  • 01 (Một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xám, số Imei: 355975762489965, số thuê bao: 0768705661 của Nguyễn Thị Thanh T1.

  • 01 (Một) điện thoại Iphone 12 màu trắng, số Imei: 356781400925355, số thuê bao: 0768419996 của Nguyễn Thị Thanh T1.

  • 01 (Một) điện thoại Iphone 14 Pro max màu trắng, số Imei: 353751257853011, số thuê bao: 0777419052 của Võ Hiền T.

  • 01 (Một) điện thoại Iphone 13 Pro max màu vàng, số I: 359456497092347, số thuê bao 0931948575 của Nguyễn Hữu N.

Bản Cáo trạng số: 122/CT-VKS ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 255 và Điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên xử các bị cáo Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Hữu N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ b Khoản 2 Điều 255; Điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 255; Điểm g Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Võ Hiền T từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là từ 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là từ 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là từ 08 (Tám) năm đến 09 (Chín) năm tù.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo khai nhận hành vi của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình của bị cáo T1 và bị cáo N. Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là sai trái xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo về với gia đình.

Bị cáo T1 nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình gây hại đến cộng đồng. Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là sai trái xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo về với gia đình.

Bị cáo N nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, ảnh hưởng đến xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, tại căn hộ HR1B3A.07, chung cư E N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu Nhùn tiền mua ma túy, chuẩn bị công cụ, cung cấp địa điểm cùng nhau sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Đồng thời, tại địa điểm bắt quả tang còn thu giữ thêm 1,1744 gram chất ma túy, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung đối với 02 người trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 255 và cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn, trong đó: T1 là người bỏ tiền ra mua ma túy, cung cấp địa điểm, dụng cụ, tiếp nhận ý chí và đồng ý với T rủ rê N cùng nhau hùn tiền sử dụng ma túy và là người trực tiếp cà nhuyển ma túy cũng như hướng dẫn các bị cáo T, N và bản thân bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo T là người khởi xướng việc mua ma túy về cùng nhau sử dụng, là người trực tiếp liên hệ mua ma túy, rủ rê N cùng sử dụng ma túy, phân công số tiền mỗi người góp mua ma túy là 1.000.000 đồng và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy; Bị cáo N sau khi được T rủ rê sử dụng trái phép chất ma túy đã đồng ý và tham gia tích cực chuẩn bị đồ ăn để phục vụ cho bản thân sử dụng ma túy trái phép với T và T1, đồng ý hùn số tiền 1.000.000 đồng với T1 để mua ma túy về cùng sử dụng trái phép.

Các bị cáo có nhân thân chưa bị kết án, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu. Xét, đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên xét tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 (Một) gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng chất bột màu trắng trong đĩa sứ màu trắng tại bàn Sofa được thu gom vào 01 gói nylon. Xét, đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên xét tịch thu tiêu hủy.

01 (Một) đoạn ống hút nhựa bên trong có dính chất bột màu trắng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 (Một) thẻ nhựa màu xanh có chữ Visa có dính chất bột màu trắng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 (Một) đĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có dính chất bột màu trắng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 (Một) loa màu xanh nhãn hiệu JBL (cũ, đã qua sử dụng) liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

01 (Một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xám, số Imei: 355975762489965, số thuê bao: 0768705661 của Nguyễn Thị Thanh T1 dùng để liên lạc mua ma túy là điện thoại dùng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

01 (Một) điện thoại Iphone 12 màu trắng, số Imei: 356781400925355, số thuê bao: 0768419996 của Nguyễn Thị Thanh T1 là tài sản riêng của bị cáo không dùng cho việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

01 (Một) điện thoại Iphone 14 Pro max màu trắng, số Imei: 353751257853011, số thuê bao: 0777419052 của Võ Hiền T là điện thoại dùng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

01 (Một) điện thoại Iphone 13 Pro max màu vàng, số I: 359456497092347, số thuê bao 0931948575 của Nguyễn Hữu Nghĩa là điện thoại dùng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Đối với ông Trần Đức L1 là chủ số tài khoản 02345666666666 L1 là người đưa số tài khoản trên cho T1 sử dụng, việc Nguyễn Thị Thanh T1 sử dụng số tài khoản trên để mua ma túy ông L1 không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q không xem xét xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

[7] Đối với bà Nguyễn Ngọc Tường V2 đã chuyển khoản mua ma túy cho các bị cáo. Kết quả điều tra chưa làm rõ được đối tượng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

[8] Đối với ông Trần Văn N1 là chủ sở hữu căn hộ. Ông N1 cho ông Huỳnh Thoại V thuê căn hộ, sau đó ông V cho T1 thuê lại căn hộ HR1B3A.07, chung cư E N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc T1 thuê căn hộ để tổ chức trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy ông V và ông N1 không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q không xem xét xử lý là có căn cứ.

[9] Đối với đối tượng nam giao ma túy và người phụ nữ tên V1 sử dụng Facebook nick name messenger “Kiều Vy” bán ma túy cho các bị cáo, kết quả điều tra chưa làm rõ được đối tượng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

[10] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    1. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 255; Điểm g Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: bị cáo Võ Hiền T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/11/2023.

    2. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 255; Điểm g Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1: 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/11/2023.

    3. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 255; Điểm g Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N: 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/11/2023.

  2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

    1. Tịch thu tiêu hủy :

      • 01 (Một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu.

      • 01 (Một) gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng chất bột màu trắng trong đĩa sứ màu trắng tại bàn Sofa được thu gom vào 01 gói nylon.

      • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa bên trong có dính chất bột màu trắng.

      • 01 (Một) thẻ nhựa màu xanh có chữ Visa có dính chất bột màu trắng.

      • 01 (Một) đĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có dính chất bột màu trắng.

    2. Tịch thu sung quỹ nhà nước:

      • 01 (Một) loa có chữ JBL, màu xanh;

      • 01 (Một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xám, số Imei: 355975762489965, số thuê bao: 0768705661 đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong máy;

      • 01 (Một) điện thoại Iphone 14 Pro max màu trắng, số Imei: 353751257853011, số thuê bao 0777419052 đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong máy;

      • 01 (Một) điện thoại Iphone 13 Pro max màu vàng, số I: 359456497092347, số thuê bao 0931948575 đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong máy.

    3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 01 (Một) điện thoại Iphone 12 màu trắng, số Imei: 356781400925355, số thuê bao: 0768419996 đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong máy.

      (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 120 ngày 01/8/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Võ Hiền T, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Hữu N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị L2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 148/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cac bi cao to chuc su dung tra phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger