|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 148/2024/DSST
Ngày 11/9/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 298/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXX-DS ngày 16/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
Địa chỉ trụ sở chính: Số D – 42 – 44 đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền của ngân hàng: Ông Dương Trần H – Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Phòng Xử lý nợ (Quyết định uỷ quyền số 6838/QĐ-NHKL ngày 13/3/2024).
- Bị đơn: Bà Phù Xuân T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
(Ông Dương Trần H có mặt, bà Phù Xuân T và ông Nguyễn Đức T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
* Ông Dương Trần H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Phù Xuân T có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh P theo hình thức Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế K1 số: 0010/17/TC/1100-5417 ngày 08/02/2017, chi tiết như sau:
- - Số tiền vay: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
- - Mục đích vay: tiêu dùng
- - Thời hạn vay: 36 tháng
- - Lãi suất cho vay: 22%/năm
- - Lãi suất chậm trả: 3.5%/số tiền chậm trả
- - Phí vượt hạn mức: 0.075%/ngày
- - Kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng. Các ngày trả lãi vay là ngày 5 hàng tháng.
- - Tiền lãi vay được tính bằng (=) Dư nợ vay thực tế nhân (x) lãi suất vay (%/năm) nhân (x) lãi suất vay (%/năm) Số ngày vay thực tế chia (:) 365. Trong đó, nếu số ngày vay thực tế chưa đủ 01 ngày thì được tính đủ 01 ngày.
- - Kỳ hạn trả nợ gốc: Thanh toán tối thiếu so với dư nợ trong kỳ là 5%. Tỷ lệ này do K1 quy định và có thể thay đổi trong từng thời kỳ.
- - Số tiền thanh toán tối thiểu mỗi kỳ = 5%*(Dư nợ cuối kỳ - số tiền vượt mức trong kỳ - số tiền trả góp trong kỳ) + Số tiền vượt hạn mức trong kỳ + số tiền trả góp trong kỳ.
- - Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ - Các khoản đã thanh toán trong kỳ + Các khoản chi tiêu trong kỳ + Phí + Lãi.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Khoản vay hạn mức thẻ tín dụng không có tài sản đảm bảo.
Thực hiện hợp đồng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bà Phù Xuân T chỉ thanh toán được một phần nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng đã ký kết.
Tính đến ngày 17/12/2023, bà Phù Xuân T còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền cụ thể: Vốn gốc còn lại: 23.683.623 đồng; Lãi phát sinh còn lại: 21.853.012 đồng; Tổng phí phải trả: 29.448.533 đồng; Tổng cộng: 74.985.168 đồng (Bảy mươi bốn triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi tám đồng).
Do bà Phù Xuân T vay tiền của Ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân với ông Nguyễn Đức T1 và vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ Ngân hàng. Ngân hàng TMCP K đã nhiều lần liên hệ và làm việc với bà T, ông T1 đòi nợ nhiều lần nhưng không được, do bà T và ông T1 cố tình tránh né, kéo dài thời gian trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Phù Xuân T và ông Nguyễn Đức T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/12/2023 là 74.985.168 đồng (Bảy mươi bốn triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi tám đồng), trong đó, nợ gốc 23.683.623 đồng, lãi còn lại 21.853.012 đồng, tổng phí phải trả 29.448.533 đồng.
- Đồng thời, bà Phù Xuân T và ông Nguyễn Đức T1 còn phải trả tiếp các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC/1100-5417 ngày 08/02/2017 kể từ ngày 18/12/2023 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng.
- Trường hợp bà Phù Xuân T và ông Nguyễn Đức T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng TMCP K được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tra soát thông tin khách hàng để tìm kiếm bổ sung tài sản đảm bảo của khách hàng để kê biên, phát mãi tài sản để ưu tiên thanh toán nợ cho ngân hàng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2024 bị đơn bà Phù Xuân T trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K, yêu cầu bà và ông Nguyễn Đức T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày khởi kiện ngày 17/12/2023 là 74.985.168 đồng (Bảy mươi bốn triệu chín trăm tám mươi lăm ngàn một trăm sáu mươi tám đồng), trong đó, nợ gốc 23.683.623 đồng, lãi còn lại 21.853.012 đồng, tổng phí phải trả 29.448.533 đồng.
Tính đến ngày 05/8/2024 là 85.120.859 đồng, trong đó dư nợ gốc là 23.683.623 đồng; lãi phát sinh là 25.978.852 đồng và phí (phạt chậm trả - phạt vượt hạn mức) là 35.458.384 đồng và các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 06/8/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
Bà có kiến như sau:
Bà đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K. Tuy nhiên, do đây là khoản nợ vay riêng của một mình bà, vì bà vay số tiền 50.000.000 đồng của Ngân hàng với mục đích tiêu dùng cá nhân, bà không cho chồng bà là ông T1 hay, ông T1 không ký tên vào hợp đồng vay cùng bà và bà không dùng số tiền vay vào việc chi tiêu cho gia đình hoặc làm ăn kinh tế của gia đình. Ông T1 cũng không hay biết việc bà vay tiền của Ngân hàng theo hình thức đăng ký thẻ tín dụng này và cũng không sử dụng số tiền này cùng bà. Do ông T1 không liên quan đến khoản nợ bà vay của Ngân hàng, nên bà đề nghị Ngân hàng không đưa ông T1 vào liên quan để trả nợ cùng bà. Bà đồng ý một mình trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
* Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đề ngày 16/8/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1 trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc buộc ông có trách nhiệm liên đới với bà Phù Xuân T để thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng thì ông hoàn toàn không đồng ý. Vì số tiền bà T vay của Ngân hàng là do một mình bà T vay và sử dụng cá nhân hết, không dùng vào việc của gia đình, bản thân ông không hay biết và không sử dụng chung số tiền này cùng bà T, nên không liên quan đến ông. Do đó, ông không đồng ý liên đới cùng với bà T để trả nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Phù Xuân T và ông Nguyễn Đức T1 có trách nhiệm liên đới trả khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K tính đến ngày 11/9/2024 là: 86.728.244 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 23.683.623 đồng, lãi phát sinh là 26.305.068 đồng, phí (phạt chậm trả - phạt vượt hạn mức) là 36.739.553 đồng. Đồng thời, yêu cầu bà T và ông T1 tiếp tục trả các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, kể từ ngày 12/9/2024 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn bà Phù Xuân T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1, nên ông, bà không có ý kiến trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của T2, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, có mặt ông Dương Trần H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, vắng mặt bị đơn bà Phù Xuân T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1. Tuy nhiên, do bà T và ông T1 đều đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T1 theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, thì thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP K và bà Phù Xuân T là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn, nên đề Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: buộc bị đơn là bà Phù Xuân T có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K số tiền tính đến ngày 11/9/2024 là: 86.728.244 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 23.683.623 đồng, lãi phát sinh là 26.305.068 đồng, phí (phạt chậm trả - phạt vượt hạn mức) là 36.739.553 đồng và phải trả các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, kể từ ngày 12/9/2024 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Đức T1 cùng có trách nhiệm liên đới trả số nợ với bà Phù Xuân T là không có cơ sở, vì bà T và ông T1 đều xác nhận đây là khoản vay tiêu dùng cá nhân của riêng bà T, không liên quan đến ông T1, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần này.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Bị đơn bà Phù Xuân T có địa chỉ cư trú tại khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Vì vậy, căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn bà Phù Xuân T, nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; bị đơn là bà Phù Xuân T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1 đều đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T1 theo quy định.
[2] Về nội dung:
Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K và bà Phù Xuân T được giao kết theo hình thức Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Theo hợp đồng tín dụng, bà Phù Xuân T vay tiền của Ngân hàng TMCP K số tiền gốc 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và hai bên thống nhất tự nguyện thỏa thuận các điều khoản về lãi suất và các khoản phí được thể hiện chi tiết tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng số tiền vay bà Phù Xuân T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng theo như các bên thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu bà Phù Xuân T cùng chồng là ông Nguyễn Đức T1 phải có nghĩa vụ trả số nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 17/12/2023 là 74.985.168 đồng (Bảy mươi bốn triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi tám đồng), trong đó, nợ gốc 23.683.623 đồng, lãi còn lại 21.853.012 đồng, tổng phí phải trả 29.448.533 đồng. Đồng thời phải trả các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC/1100-5417 ngày 08/02/2017 kể từ ngày 18/12/2023 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2024 bị đơn bà Phù Xuân T thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền theo như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Bà T đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 05/8/2024 là 85.120.859 đồng, trong đó, nợ gốc 23.683.623 đồng, lãi phát sinh 25.978.852 đồng, tổng phí phải trả 35.458.384 đồng và đồng ý tiếp tục trả cho Ngân hàng các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, kể từ ngày 06/8/2024 đến ngày trả hết nợ vay. Nhưng bà T yêu cầu một mình bà được trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng, do bà vay tiền của Ngân hàng để tiêu dùng cho mục đích nhân riêng của bà, còn ông Nguyễn Đức T1 không biết việc bà vay tiền và không cùng sử dụng số tiền này với bà nên không liên quan đến số nợ bà vay của Ngân hàng nên không phải chịu trách nhiệm liên đới cùng bà trả nợ cho Ngân hàng.
Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đề ngày 16/8/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1 trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc buộc ông có trách nhiệm liên đới với bà Phù Xuân T để thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng thì ông hoàn toàn không đồng ý. Vì số tiền bà T vay của Ngân hàng là do một mình bà T vay và sử dụng cá nhân hết, không dùng vào việc của gia đình, bản thân ông không hay biết và không sử dụng chung số tiền này cùng bà T, nên không liên quan đến ông. Do đó, ông không đồng ý liên đới cùng với bà T để trả nợ cho Ngân hàng.
Theo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, tính đến ngày tòa án xét xử ngày 11/9/2024, tổng số tiền bà Phù Xuân T còn nợ Ngân hàng là: 86.728.244 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 23.683.623 đồng, lãi phát sinh là 26.305.068 đồng, phí (phạt chậm trả - phạt vượt hạn mức) là 36.739.553 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà T và ông T1 cùng liên đới trả khoản nợ này và tiếp tục trả cho Ngân hàng các khoản phí, lãi phát sinh từ ngày 12/9/2024 đến khi trả hết số nợ cho Ngân hàng.
Như vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu bà Phù Xuân T phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử ngày 11/9/2024 là 86.728.244 đồng và phải tiếp tục trả các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017, kể từ ngày 12/9/2024 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng là có cở sở chấp nhận, do bà Phù Xuân T đã thống nhất thừa nhận toàn bộ số nợ vay và đồng ý trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng.
Riêng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Đức T1 phải có trách nhiệm liên đới cùng trả nợ với bà Phù Xuân T3 là không có cơ sở chấp nhận, do số tiền bà T3 vay của Ngân hàng theo bà T3 trình bày là dùng vào mục đích cá nhân, không dùng vào việc chi tiêu, sinh hoạt cho gia đình hoặc làm ăn kinh tế gia đình trong thời kỳ hôn nhân với ông T1. Ông T1 không ký tên vào hợp đồng vay, không biết bà T3 vay tiền và không sử dụng số tiền này cùng bà T3, nên ông T1 không đồng ý liên đới trả số nợ này cùng bà T3. Do đó, trách nhiệm trả nợ Ngân hàng là của một mình bà T3, không liên quan đến ông T1. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc buộc ông Nguyễn Đức T1 phải liên đới trả khoản nợ cùng bà Phù Xuân T.
Từ những phân tích nêu trên, cần buộc bà Phù Xuân T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền tính đến ngày 11/9/2024 là: 86.728.244 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 23.683.623 đồng, lãi phát sinh là 26.305.068 đồng, phí (phạt chậm trả - phạt vượt hạn mức) là 36.739.553 đồng và phải trả các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, kể từ ngày 12/9/2024 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng, là phù hợp với Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về án phí:
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với bị đơn bà Phù Xuân T được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1 không được Tòa án chấp nhận.
Bị đơn bà Phù Xuân T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được tòa án chấp nhận, số tiền án phí được tính là: 86.728.244 đồng x 5% = 4.336.000 đồng (Làm tròn) (Bốn triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1 không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 280 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Phù Xuân T.
- Buộc bà Phù Xuân T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 11/9/2024 là 86.728.244 đồng (Tám mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: dư nợ gốc là 23.683.623 đồng, lãi phát sinh là 26.305.068 đồng, phí (phạt chậm trả - phạt vượt hạn mức) là 36.739.553 đồng.
- Bà Phù Xuân T còn phải trả tiếp các khoản phí, lãi phát sinh theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0010/17/TC-1100-5417 ngày 08/02/2017 và phụ lục bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, kể từ ngày 12/9/2024 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K về việc buộc ông Nguyễn Đức T1 liên đới trả khoản nợ vay cùng với bà Phù Xuân T.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.874.629 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm hai mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000106, ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần K được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.574.629 đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm hai mươi chín đồng)
- Bị đơn bà Phù Xuân T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 4.336.000 đồng (Làm tròn) (Bốn triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
- Ông Nguyễn Đức T1 không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn bà Phù Xuân T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T1 vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Nhung |
9
Bản án số 148/2024/DSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 148/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K và bà Phù Xuân T
