Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 148/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phước
  2. Bà Võ Tuyết Kha

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí N, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp D, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh N sống chung từ năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện G (nay là thị xã G), tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/12/2010. Vợ chồng chị đã ly thân do vợ chồng sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị T và anh N có hai người con chung là Nguyễn Khánh U, sinh ngày 26/11/2010 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/01/2017. Khi ly hôn, chị yêu cầu giao con chung cho anh N tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Chí N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị T được ly hôn với anh N.

+ Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Khánh U, sinh ngày 26/11/2010 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/01/2017 cho anh N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

+ Về cấp dưỡng: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh N, anh N đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh N là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Chị T và anh N tự nguyện sống chung từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, nhưng chị T và anh N không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập anh N nhiều lần nhưng anh N vẫn không đến, như vậy anh N đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy, hôn nhân của chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn với anh N.

[4] Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của chị T thì chị T và anh N có 02 người con chung là Nguyễn Khánh U, sinh ngày 26/11/2010 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/01/2017. Chị T yêu cầu giao con chung tên Nguyễn Khánh UNguyễn Đăng K. Anh N đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị T nhưng anh N không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T. Xét thấy, từ khi chị T và anh N ly thân đến nay, anh N trực tiếp nuôi dưỡng cháu U và cháu K. Tòa án không liên hệ được để lấy ý kiến của cháu. Đồng thời, căn cứ vào lời trình bày của chị T, hiện tại cháu U và cháu K vẫn phát triển tốt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu U và cháu K, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao cháu Nguyễn Khánh U, sinh ngày 26/11/2010 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/01/2017 cho anh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng T ly hôn anh Nguyễn Chí N.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh U, sinh ngày 26/11/2010 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/01/2017 cho anh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006835 ngày 02/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu án phí.

    Anh Nguyễn Chí N không phải chịu án phí.

  6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 148/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger