|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 148/2024/DS-ST Ngày: 31-7-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Long và ông Bùi Ngọc Thảo
–Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Khang ÊBan – chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLST-DS ngày 28/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn số 143/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Ngân hàng N (A)
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Chí T – Chức vụ: Giám đốc A chi nhánh Đ – Phòng G.
Địa chỉ: F Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
– Bị đơn: Bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K
Địa chỉ: Số 98/10, đường Nguyễn Cơ Thạch, tổ dân phố 6, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở: 107/7A Nguyễn Phúc Chu, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn Ngân hàng N trình bày:
Bà Bùi Thị V1 vay vốn tại A chi nhánh tỉnh Đ – Phòng G, cụ thể:
- – Hợp đồng tín dụng số: 5200LAV202202497 ngày 23/8/2022.
- – Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng, kể từ ngày 23/8/2022;
- – Hạn mức cho vay: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng);
- – Mục đích sử dụng vốn: Kinh doanh mua bán phân bón
- – Nhận nợ theo giấy nhận nợ số 5200LDS202204321 ngày 23/8/2022;
- + Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng);
Hiện tại, tổng số nợ gốc, lãi và lãi quá hạn tính đến hết ngày 09/4/2024: 2.382.685.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ ba trăm tám mươi hai triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn đồng), cụ thể:
- – Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng
- – Nợ lãi: 382.685.000 đồng, trong đó: (Lãi trong hạn: 286.685.000 đồng; Lãi quá hạn: 96.000.000 đồng).
Biện pháp bảo đảm
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ, bà Bùi Thị V1 đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (HĐTC) số [...]/2022/TC ngày 22/8/2022. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố B theo đúng quy định, tài sản thế chấp cụ thể như sau:
Tài sản thế chấp:
Tài sản 01: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 148955 do Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh Đ cấp ngày 07/11/2016, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 18/6/2020; Số vào số cấp GCN: CT-010780.
- – Thửa đất số: 558; Tờ bản đồ số (nếu có): 4;
- – Địa chỉ: Phường T, Thành phố B, Tỉnh Đắk Lắk;
- – Diện tích: 77,7 m² (Bằng chữ: Bảy mươi bảy phẩy bảy mét vuông);
- – Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng;
- – Mục đích sử dụng: Đất ở 40 m²; Đất trồng cây hàng năm khác 16,3 m², đất trồng cây lâu năm 21,4 m²
- Thời hạn sử dụng: Đất ở: Lâu dài; đất trồng cây hàng năm khác: 15/10/2043; đất trồng cây lâu năm: 2043
- – Nguồn gốc: Nhận chuyển nhượng
- Ghi chú: Thửa đất có 16,3m² thuộc quy hoạch giao thông
Tài sản 02: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 148956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh Đ cấp ngày 07/11/2016, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 21/8/2020; Số vào sổ cấp GCN: CT-010781.
- – Thửa đất số: 557; Tờ bản đồ số (nếu có): 4;
- – Địa chỉ: Phường T, Thành phố B, Tỉnh Đắk Lắk;
- – Diện tích: 81,3 m² (Bằng chữ: Tám mươi mốt phẩy ba mét vuông);
- – Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng;
- – Mục đích sử dụng: Đất ở 40 m²; Đất trồng cây hàng năm khác 16,3 m², đất trồng cây lâu năm 25 m²
- Thời hạn sử dụng: Đất ở: Lâu dài; đất trồng cây hàng năm khác: 15/10/2063; đất trồng cây lâu năm: 2043
- Nguồn gốc: Nhận chuyển nhượng
- Ghi chú: Thửa đất có 16,3m² thuộc quy hoạch giao thông
Việc vi phạm nghĩa vụ
Tính đến hết ngày 09/4/2024, tổng dư nợ gốc, lãi, lãi quá hạn của bà Bùi Thị V1 tại A chi nhánh tỉnh Đ – Phòng G là: 2.382.685.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ ba trăm tám mươi hai triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
A chi nhánh tỉnh Đ – Phòng G đã nhiều lần làm việc và có văn bản yêu cầu bà Bùi Thị V1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 5200LAV202202497 ngày 23/8/2022, yêu cầu bà Bùi Thị V1 thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/2022/TC ngày 22/8/2022. Tuy nhiên, tính đến nay bà Bùi Thị V1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn cho A, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A.
Do đó A chi nhánh tỉnh Đ – Phòng G yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên buộc bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 30/7/2024 là 2.528.020.411 đồng (Hai tỷ năm trăm hai mươi tám triệu không trăm hai mươi ngàn bốn trăm mười một đồng) (trong đó nợ gốc là 1.995.000.000 đồng và lãi là 533.020.411 đồng)
- Tuyên buộc bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5200LAV202202497 ngày 23/8/2022, kể từ ngày 31/7/2024 cho đến ngày thực tế bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K trả hết toàn bộ nợ gốc, lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho A.
- Tuyên nếu bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A chi nhánh tỉnh Đ – Phòng G có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/2022/TC ngày 22/8/2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh Tỉnh Đ – Phòng G có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt.
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự, còn bị đơn, chấp hành chưa đúng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K trả cho ngân hàng số tiền nợ tính đến hết ngày 09/4/2024 là 2.382.685.000 đồng; đồng thời yêu cầu ông K và bà V1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/4/2024 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp không thanh toán theo đúng hạn thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp đã ký. Về án phí và các chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các thông báo, giấy triệu tập cho bị đơn nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về số nợ gốc và lãi: Ngày 22/8/2022 ông Nguyễn Xuân K ủy quyền cho bà Bùi Thị V1 xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn tại ngân hàng A, được công chứng tại văn phòng C; Ngày 23/8/2022 Bà Bùi Thị V1 ký hợp đồng tín dụng số: 5200LAV202202497 tại A chi nhánh tỉnh Đ – Phòng G (gọi tắt là ngân hàng). Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng, kể từ ngày 23/8/2022; Hạn mức cho vay: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng); Mục đích sử dụng vốn: Kinh doanh mua bán phân bón. Nhận nợ theo giấy nhận nợ số 5200LDS202204321 ngày 23/8/2022; Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng; Sau quá trình sử dụng vốn vay bà V1 và ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng. Ngày 19/3/2024 Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K thanh toán nợ theo hợp đồng đã ký.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo cho bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng nhưng bà V1 và ông K không có ý kiến phản hồi.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, pháp luật của nhà nước. Theo nội dung hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thì bà V1 và ông K phải thanh toán nợ cho ngân hàng theo đúng thỏa thuận cam kết, với thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 23/8/2022; nhưng sau đó bà V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng đã ký kết và theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó Ngân hàng khởi kiện bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 30/7/2024 là 2.528.020.411 đồng (trong đó nợ gốc là 1.995.000.000 đồng và lãi là 533.020.411 đồng); đồng thời yêu cầu ông K và bà V1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký là phù hợp theo Điều 466 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận đối với yêu cầu này.
[2.2] về xử lý tài sản thế chấp
Để đảm bảo khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 5200LAV202202497 ký ngày 23/8/2022. Ngày 22/8/2022 bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/2022/TC công chứng ngày 22/8/2022, được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B ngày 22/8/2022 để thế chấp tài sản: là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 148955, thửa đất số 558, tờ bản đồ số 4, diện tích 77,7m² tại phường T, thành phố B, được đăng ký biến động sang tên Bùi Thị V1 và Nguyễn Xuân K ngày 18/6/2020; Và toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE148956, thửa đất số 557, tờ bản đồ số 4, diện tích 81,3m², tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, được biến động sang tên cho ông Nguyễn Xuân K ngày 21/6/2020. Do đó hợp đồng thế chấp là đúng quy định và hợp pháp. Vì vậy yêu cầu của Ngân hàng về việc đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/2022/TC ngày 22/8/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 299 và Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận.
Trường hợp bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K trả đủ toàn bộ số nợ trên thì Ngân hàng N có trách nhiệm trả lại cho bà V1 và ông K Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE148956 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 07/11/2016 cho bà Vũ Thị H, được đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Xuân K ngày 21/6/2020 (thuộc thửa đất số 557, tờ bản đồ số 4, diện tích 81,3m² đất toạ lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk); Và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE148955 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 07/11/2016 cho bà Đặng Thị Thu T1, được đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Xuân K và Bùi Thị V1 ngày 18/6/2020 (thuộc thửa đất số 558, tờ bản đồ số 4, diện tích 77,7m² đất toạ lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk).
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Số tiền này Ngân hàng đã nộp tạm ứng, bà V1 và ông K có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 2.000.000 đồng cho Ngân hàng N.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; cụ thể là: 72.000.000 đồng + (2% x {2.528.020.411 đồng – 2.000.000.000 đồng})= 82.560.000 đồng. (làm tròn)
Nguyên đơn Ngân hàng N không phải chịu án phí DSST nên hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí là 39.580.000 đồng do Ngân hàng N đã nộp theo biên lai số AA/2023/0009697 ngày 26/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 161, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- – Áp dụng các Điều 299, Điều 323; Điều 463, Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- – Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng
- – Áp dụng Điều 4, Điều 56, khoản 1 Điều 58 nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 19/12/2006 của Chính phủ về các giao dịch bảo đảm.
- – Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban tường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải trả Ngân hàng N số tiền 2.528.020.411 đồng (Hai tỷ năm trăm hai mươi tám triệu không trăm hai mươi ngàn bốn trăm mười một đồng) (trong đó nợ gốc là 1.995.000.000 đồng và lãi là 533.020.411 đồng) tính đến ngày 30/7/2024 và tiếp tục trả nợ lãi phát sinh kể từ ngày 31/7/2024 đối với khoản nợ gốc cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5200LAV202202497 ngày 23/8/2022.
Trường hợp bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/2022/TC ngày 22/8/2022 để thu hồi nợ cho ngân hàng. Cụ thể là:
Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE148956 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 07/11/2016 cho bà Vũ Thị H, được đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Xuân K ngày 21/6/2020 (thuộc thửa đất số 557, tờ bản đồ số 4, diện tích 81,3m² đất toạ lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk);
Và toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE148955 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 07/11/2016 cho bà Đặng Thị Thu T1, được đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Xuân K và Bùi Thị V1 ngày 18/6/2020 (thuộc thửa đất số 558, tờ bản đồ số 4, diện tích 77,7m² đất toạ lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk).
Trường hợp bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K thực hiện trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng N phải trả cho bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE148955 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 148956.
* Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng N đã đóng tạm ứng chi phí tố tụng, ông Nguyễn Xuân K và bà Bùi Thị V1 có trách nhiệm hoàn trả số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho Ngân hàng N.
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Bùi Thị V1 và ông Nguyễn Xuân K phải chịu: 82.560.000 đồng (T2 mươi hai triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí là 39.580.000 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng) do Ngân hàng N đã nộp theo biên lai số AA/2023/0009697 ngày 26/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Cúc |
Bản án số 148/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 148/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà V, ông K
