Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 148/2024/DS-ST

Ngày: 24 – 04 -2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa, ông Đặng Khoa Thi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 325/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 03 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 179/2024/QĐST-DS, ngày 04 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Phạm Trí D, sinh năm 1977; bà Trần Thị Đ, sinh năm 1972. Cùng địa chỉ: số C đường R lớn, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Đ: ông Phạm Trí D, sinh năm 1977, bà Trần Thị Đ, sinh năm 1972. Địa chỉ: số C đường R lớn, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo giấy ủy quyền số 6113, ngày 10/10/2023 do Văn phòng công chứng Huỳnh Vĩnh K chứng nhận.

2.Bị đơn: Bà Lưu Thị N, sinh năm 1963. Địa chỉ: số H, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1.Bà Phan Thị Cẩm N1, sinh năm 1986;

3.2.Ông Phan Văn T, sinh năm 1989;

3.3.Bà Huỳnh Thị Tố U, sinh năm 1993.

Cùng địa chỉ: số H, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

(Có mặt ông D, các đương sự còn lại vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Phạm Trí D trình bày:

Ngày 26/05/2019, vợ chồng ông Phạm Trí D, bà Trần Thị Đ thỏa thuận lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Bành Quốc A, sinh năm 1966, anh Bành Kiến T1, sinh năm 2001 và chị Bành Thị Bảo C, sinh năm 2004 (anh T1 và chị C do ông Quốc A đại diện theo pháp luật) thống nhất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất các số CQ211685, CQ 211686, CQ 211687 – số vào sổ CS 02807 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 26/042019; thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 65, diện tích 306,1m²; loại đất ở tại đô thị, giá thỏa thuận 50.000.000đ, việc thanh toán được hai bên thỏa thuận.

Về nguồn gốc phần diện tích đất là nhận chuyển nhượng của ông A, anh T1, chị C; trước đó A, T1, C nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị N2 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/01/2003. Đến ngày 24/05/2019 ông D và bà Đ được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS13183 theo quy định pháp luật với diện tích 306,1m² thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 65, loại đất ở tại đô thị, thuộc phường M, thành phố L, tỉnh An.

Do chưa nhu cầu sử dụng, để đất trống, không rào chắn nên bà Lưu Thị N lấn chiếm phần diện tích đất 15,5m² có kích thước chiều ngang phía trước 0,5m x chiều dài 31,9m; chiều ngang phía sau 0,46m và xây nhà vệ sinh có kích thước chiều ngang 0,5m x chiều dài 3m. Phần diện tích đất nằm toàn bộ trong phần diện tích đất 306,1m².

Nhiều lần hai bên đã thỏa thuận, thương lượng giải quyết nhưng không thống nhất, sự việc được Ủy ban nhân dân phường M hòa giải nhưng không thành. Do đó, ông D và bà Đ khởi kiện yêu cầu bà Lưu Thị N phải tháo dỡ, di dời các vật kiến trúc, công trình xây dựng, trả lại cho ông D và bà Đ diện tích đất lấn chiếm 15,5m² có kích thước chiều ngang phía trước 0,5m x chiều dài 31,9m, chiều ngang phía sau 0,46m, trên đất có xây dựng nhà vệ sinh có kích thước chiều ngang 0,5m x chiều dài 3m.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã cung cấp cho Tòa án và đã công khai theo quy định pháp luật.

Đối với các khoản chi phí tố tụng đã tạm ứng yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

2

Bị đơn, bà Lưu Thị N và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đưa ra yêu cầu phản tố, độc lập đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Phạm Trí D trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bà N2, yêu cầu bà N2 cùng các ông bà: T, N1, U trả lại phần diện tích đất 15,5m² và tháo dỡ di dời nhà vệ sinh trả lại phần diện tích đất cho ông D và bà Đ quản lý sử dụng.

Về kết quả định giá yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét tính giá trị tài sản tranh chấp theo biên bản định giá ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá và chi phí tố tụng yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với kết quả định giá của Công ty Cổ phần T2 không yêu cầu và tự nguyện chịu chi phí.

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Phần tranh luận: Ông D không trình bày tranh luận.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, của đương sự tại phiên tòa, đương sự vắng mặt phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà N2, chuyển nhượng cho ông Quốc A, anh T1, chị C; sau đó chuyển nhượng cho ông D và bà Đ. Xét biên bản xem xét thẩm định, hồ sơ kỹ thuật khu đất có căn cứ xác định phần diện tích 15,5m² cấp cho ông D và bà Đ và nhà vệ sinh thuộc giấy chứng nhận cho ông D bà Đ. Do đó, căn cứ Điều 175 Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, 170, 203 Luật đất đai 2013. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, bà Đ đối với bà N2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tháo dỡ, di dời vật, công trình xây dựng trả lại cho nguyên đơn liến tích đất lấn chiếm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho các đương sự. Tại phiên tòa, ông D có mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

3

[2] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp phần diện tích 15,5m² đất tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Trên phần đất có các căn nhà vệ sinh nằm trong phạm vi diện tích đất tranh chấp. Xét yêu cầu khởi kiện của ông D và bà Đ, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 163 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Phần diện tích đất nguyên đơn tranh chấp được xác định tại phường M, thành phố L nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện: Xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS13183, ngày 24/05/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp mang tên ông Phạm Trí D và bà Trần Thị Đ, thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 65; diện tích 306,1m²; mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, vị trí khu đất tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang có nguồn gốc là của bà Lưu Thị N2 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04216 QSDĐ/gA, ngày 08/01/2003. Đến ngày 09/01/2003, bà N2 chuyển nhượng cho ông Bành Quốc A. Phía ông A do bà Nguyễn Thị Kim N3 (vợ ông A đã chết) nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N3 lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thống nhất giao cho ông A, anh T1 và chị C quản lý sử dụng định đoạt 306,1m² và năm 2019 chuyển nhượng lại cho ông D và bà Đ. Xét, nguồn gốc phần diện tích đất tranh chấp giữa các bên thể hiện là của ông D và bà Đ nhận chuyển nhượng lại của A, T1, C. Các văn bản thỏa thuận thể hiện theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/05/2019 do Văn phòng C1 chứng nhận số 1184, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phù hợp theo quy định pháp luật, ông D bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp; trong quá trình thực hiện các bên không tranh chấp khiếu nại việc chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D bà Đ. Qua xem xét đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 07/05/2019 của ông Phạm Trí D, ý kiến của cơ quan có thẩm quyền xét điều kiện cấp giấy chứng nhận của ông D, bà Đ; xác định thửa đất số 114, tờ bản đồ số 65, diện tích đất 306,1m²; loại đất ở tại nông thôn có nguồn gốc do ông D và bà Đ được cấp giấy chứng nhận hợp pháp vào năm 2019, thuộc trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông D và bà Đ là người sử dụng đất hợp pháp, ông bà có các quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai. Bà N không đưa ra các tài liệu, chứng cứ có liên quan chứng minh phần diện tích đất là do bà N2 quản lý sử dụng và tại phiên tòa ông D và bà Đ yêu cầu bà N2 trả lại phần đất thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 65 nhưng bà N2 không có ý kiến. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, bà Đ.

[4] Theo yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản, thẩm định giá tài sản tranh chấp của các đương sự thể hiện trên đất có các căn nhà: Đối với căn

4

nhà vệ sinh do các ông bà N2, N1, T, U đang quản lý sử dụng có diện tích 1,2m² thể hiện tại các điểm 52, 53, 54, 55, 56, 57 được xây dựng với kết cấu: Nền gạch men, vách gạch + tole (có hầm tự hoại), khung sắt tiền chế, mái tole và phần diện tích đất tranh cấp 15,5m². Sau khi xác định vị trí các mốc ranh giới sử dụng đất được xác định đất thuộc đô thị loại 1, đường loại 4, thuộc các đường còn lại trên khu vực phường M, vị trí 1, đoạn từ cầu B Tăng đến ranh P). Vị trí 1 có giá trị 1.200.000đ/m² và vật kiến trúc (nhà vệ sinh) có 5.543.040đ. Kèm theo bản trích đo hiện trạng do Văn phòng Đ1 chi nhánh L lập ngày 22/01/2024. Biên bản định giá tài sản ngày 06/02/2024. Nguyên đơn ông D và bà Đ cung cấp giá trị tài sản tranh chấp, không yêu cầu định giá trị lại hoặc bổ sung và thống nhất bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 22/01/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L, kết quả định giá của Hội đồng định giá. Xét đây là ý chí nguyện vọng của nguyên đơn, phía bị đơn không có ý kiến, các đương sự không tranh chấp về giá nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận xác định giá trị theo yêu cầu của nguyên đơn để giải quyết theo quy định pháp luật, không xem xét kết quả định giá theo chứng thư thẩm định giá số 240216.01/2024/CT.VVAC, ngày 16/02/2024 của Công ty Cổ phần T2.

[5] Từ những phân tích trên cho thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trí D, bà Trần Thị Đ; buộc bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U phải liên đới trách nhiệm trả lại phần diện tích 15,5m² được giới hạn bởi các điểm 12, 59, 57, 58 và tháo dỡ, di dời căn nhà vệ sinh có diện tích 1,2m² thể hiện tại các điểm 4, 5, 60, 61, theo bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 22/01/2024.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu khởi kiện của ông D và bà Đ được chấp nhận nên trả lại tiền án phí 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002222, ngày 21/09/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U phải liên đới trách nhiệm nộp 300.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[7] Về chi phí tố tụng: Căn cứ các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U phải liên đới trách nhiệm nộp số tiền 1.000.000đ để hoàn trả lại cho ông D và bà Đ tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

5

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 233, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 163, 164, 175 Bộ Luật dân sự năm 2015;

Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trí D, bà Trần Thị Đ đối với bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U.

Buộc bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U liên đới trách nhiệm trả lại phần diện tích đất trả lại phần diện tích đất có diện tích 15,5m² thể hiện tại các điểm 12, 59, 57, 58. Kèm theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 22/01/2024.

Buộc bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U liên đới trách nhiệm tháo dỡ, di dời căn nhà vệ sinh được xây dựng với kết cấu: Nền gạch men, vách gạch + tole (có hầm tự hoại), khung sắt tiền chế, mái tole; diện tích xây dựng 1,2m² được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 60, 61. Kèm theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 22/01/2024.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho ông Phạm Trí D và bà Trần Thị Đ số tiền 600.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002222, ngày 21/09/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U liên đới trách nhiệm nộp số tiền 300.000đ tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về chi phí tố tụng: Bà Lưu Thị N2, bà Phan Thị Cẩm N1, ông Phan Văn T, bà Huỳnh Thị Tố U phải liên đới trách nhiệm nộp số tiền 1.000.000đ để hoàn trả lại cho ông Phạm Trí D và bà Trần Thị Đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của đương sự theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án

6

dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPLX;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 148/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger