|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 148/2023/HSST Ngày 29 tháng 11 năm 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Phó Chủ tịch Hội LHPN Định Quán;
- Trần Thị Hoa – Cán bộ hưu trí (Nguyên cán bộ Ban Dân vận huyện ủy Định Quán).
- - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 191/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H – sinh năm 2001 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Khu dân cư C, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Lê Văn Đ – sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Tiền sự: Không.
Bắt ngày 01/11/2022 và bị tạm giữ, tạm giam đến nay “có mặt”.
* Bị hại: Cháu Nguyễn Hoài H1 - sinh ngày 22/10/2008.
Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: Ông Lê Công Đ1 sinh năm 1967; Trú tại: Ấp B, xã P, huyện Đ - cha cháu H1 (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Đặng Bửu T1 – TGVPL thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H và cháu Nguyễn Hoài H1 quen biết qua mạng xã hội Facebook và nảy sinh tình cảm nam nữ.
Trong thời gian từ khoảng tháng 12/2021 đến tháng 7/2022, Lê Văn H đã 40 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Nguyễn Hoài H1. Trong đó, có 05 lần tại nhà nghỉ “Như Ý” (thuộc ấp Đ, xã T); 20 lần tại nhà của H (thuộc ấp T, xã P); 10 lần tại nhà trọ của bà Nguyễn Thị N (thuộc ấp Đ, xã G, huyện T) và 05 lần tại nhà anh Nguyễn Thành T2 (thuộc ấp T, xã P). Tất cả các lần quan hệ tình dục, cháu Nguyễn Hoài H1 đều tự nguyện, cụ thể như sau:
- - Tại nhà nghỉ “Như Ý” thuộc ấp Đ, xã T: Vào khoảng tháng 12/2021 (không nhớ rõ ngày), H rủ cháu H1 đi chơi và đưa cháu H1 đến nhà nghỉ “Như Ý” thuộc ấp Đ, xã T để ở khoảng 3 đến 4 ngày. Tại đây, H và cháu H1 quan hệ tình dục với nhau 02 lần. Khi H đưa cháu H1 về nhà thì cha, mẹ của H và cha của cháu H1 không đồng ý nên H đưa cháu H1 đến Bình Dương sinh sống. Đến khoảng tháng 01/2022, H đến Bình Dương đón cháu H1 về lại nhà nghỉ “Như Ý” và quan hệ tình dục với cháu H1 thêm 03 lần
- - Tại nhà của Lê Văn H thuộc ấp T, xã P: Vào buổi sáng ngày 02/02/2022 (nhằm ngày mồng 2 Tết Nhâm Dần), bà Nguyễn Thị T (mẹ H) đón H và cháu H1 về nhà ở đến khoảng đầu tháng 7/2022. Trong khoảng thời gian này, H đã quan hệ tình dục với cháu H1 20 lần.
- - Do giữa bà T và cháu H1 xảy ra mâu thuẫn nên H và cháu H1 đến thuê nhà trọ của bà Nguyễn Thị N (thuộc ấp Đ, xã G, huyện T) ở khoảng 01 tháng. Tại đây, H đã quan hệ tình dục với cháu H1 10 lần.
- - Tại nhà anh Nguyễn Thành T2 thuộc ấp T, xã P (bạn của H): Vào khoảng cuối tháng 7/2022, sau hi trả phòng trọ cho bà N, H đưa cháu H1 đến nhà anh Nguyễn Thành T2 xin ở nhờ. Trong khoảng thời gian ở nhà anh T2, H đã quan hệ tình dục với cháu H1 05 lần. Đến đầu tháng 8/2022 thì giữa H và cháu H1 xảy ra mâu thuẫn nên cháu H1 trở về nhà.
Ngày 07/8/2022, ông Lê Công Đ1 (là cha cháu H1) phát hiện sự việc và làm đơn tố cáo hành vi của Lê Văn H. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Lê Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 0925/TDTE/2022 ngày 24/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, xác định tình trạng của cháu Nguyễn Hoài H1 như sau:
- - Màng trinh: Hình khe, đường kính lỗ trinh 02cm. Màng trinh rách cũ vị trí 10 giờ, bờ mép vết rách, thân và chân màng trinh không phù nề, không xung huyết, không chảy máu (Bút lục số 27, 28).
Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKS-ĐQ ngày 03/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
- - Kiểm sát viên giữ nguyên truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
- Kiểm sát viên còn nêu quan điểm xử lý về biện pháp tư pháp, dân sự và án phí theo quy định.
- - Bị cáo Lê Văn H nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Ông Đặng Bửu T1 có ý kiến: Đồng ý về phần tội danh, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề xuất; ông đề nghị Tòa án xem xét, bảo vệ quyền lợi của trẻ em, theo quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt bị hại: Đại diện của cháu H1 là ông Lê Công Đ1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, bị hại có lời khai rõ ràng, không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự nên sự vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử; Tòa án xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo Lê Văn H:
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn H đã khai nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Do có quan hệ tình cảm yêu thương nhau nên trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 7/2022, Lê Văn H đã 40 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Nguyễn Hoài H1 - sinh ngày 22/10/2008. Trong đó, có 05 lần tại nhà nghỉ “Như Ý”, thuộc ấp Đ, xã T (khi cháu H1 chỉ mới 13 tuổi 02 tháng 08 ngày); 20 lần tại nhà của H, thuộc ấp T, xã P; 10 lần tại nhà trọ của bà Nguyễn Thị N, thuộc ấp Đ, xã G, huyện T và 05 lần tại nhà anh Nguyễn Thành T2, thuộc ấp T, xã P
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Văn H đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
[3] Mức độ nguy hiểm của hành vi:
Xét thấy chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý cho bản thân, bị cáo H bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật, đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu H1 khi cháu còn ở độ tuổi trẻ em. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, nhân phẩm và quyền bất khả xâm phạm tình dục của trẻ em mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương tạo ra tâm lý hoang mang lo sợ cho các bậc làm cha, làm mẹ trong việc trông nom và giáo dục con cái. Do đó Hội đồng xét xử phải xử lý nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống sinh hoạt bình thường của xã hội một thời gian dài đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lê Văn H thì thấy rằng:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình; Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên am hiểm pháp luật có phần hạn chế; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Tòa án không xem xét.
[6] Về quan điểm của Kiểm sát viên và của những người tham gia tố tụng:
Quan điểm của Kiểm sát viên; của ông Đặng Bửu T1 là đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý nên được Tòa án chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2022.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000₫.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo H, ông Đặng Bửu T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Công Đ1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hòa |
Bản án số 148/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 148/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H
