Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HS – ST.

Ngày: 15 – 07 – 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý.

Bà Võ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Vinh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2024/HSST ngày 14 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST – HS ngày 28 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

H.Đ.C, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT: TH, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận; Nghề ngH: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông H.V.L và bà N.T.T.C; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/8/2017 Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng (chấp hành xong ngày 26/3/2019).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/02/2024.

(Bị cáo có mặt).

- Bị hại:

Ông L.P.H, sinh năm 1991; Địa chỉ: HT13, phường H Thành, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh..

(Ông H vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà V.T.M.H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số QT, Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh..

(Bà H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/02/2024, H.Đ.C sử dụng mạng xã hội Facebook vào các trang mua bán xe thì thấy ông L.P.H sử dụng tài khoản “L.T.P” đăng thông tin muốn mua xe gắn máy. C nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người này nên liên hệ, hỏi bán 01 xe gắn máy hiệu Vision với giá 7.000.000 đồng theo dạng xe không có giấy tờ. Qua thỏa thuận thì ông H đồng ý mua xe với giá 6.000.000 đồng. C hẹn ông H đến bãi xe của Siêu thị Go, địa chỉ số NK, Phường Cm Quận B để giao dịch. C chuẩn bị sẵn và đem theo 01 chìa khóa Smartkey (giả) và 01 thẻ từ giữ xe (giả). Khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, C, H gặp nhau và ngồi nói chuyện tại dãy ghế tại hầm giữ xe của siêu thị. Tại đây, H đưa cho C số tiền 6.000.000 đồng thì C dắt H đến khu vực A1 của bãi xe và chỉ cho H xem 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 76F1 – X của bà V.T.M.H đang dựng ở đây. C giả vờ nói xe này của mình và đưa H chìa khoá giả. Do H không sử dụng được chìa khoá giả nên C kêu H dắt xe ra ngoài. Lúc này, C đi bộ ra khỏi hầm để xe, còn H dắt xe đi phía sau. Khi đến cổng bảo vệ, H bị anh P.V.T, là nhân viên bảo vệ chặn lại, yêu cầu đưa thẻ xe. Lúc này, C quay lại đưa 01 thẻ từ giữ xe (giả) cho anh T nhưng anh T phát hiện là thẻ giả nên cùng nhân viên bảo vệ khác giữ C và ông H, giao Công an phường 03, quận Gò Vấp xử lý.

Vật chứng vụ án:

  • Tiền Việt Nam 6.000.000 đồng (đã trả ông H).
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 76F1 – X (đã trả bà H).
  • 01 thẻ giữ xe màu trắng.
  • 01 chìa khoá xe gắn máy (Smartkey).
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Nokia (tạm giữ của C).
  • 02 điện thoại di động OPPO (đã trả ông H).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, C thừa nhận xe biển số 76F1 – X không thuộc sở hữu của C mà chỉ giả vờ nói với ông H là xe của mình để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng của ông H.

Đối với ông H, khi đến gặp C để mua xe, không biết xe gắn máy biển số 76F1 – X là C lừa để bán cho H, C nói với H xe không có giấy tờ nhưng không phải là xe bẻ khoá (xe trộm cắp). H nhận thức việc mua xe gắn máy trên với giá rẻ và không có giấy đăng ký xe là xe có nguồn gốc không hợp pháp, tuy nhiên, chưa đủ căn cứ xử lý hình sự đối với H về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Ngoài ra, H khai nhận đã mua một số xe máy khác với giá rẻ để bán lại kiếm lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đang tiếp tục điều tra xác minh, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ và nhập kho vật chứng 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 thẻ nhựa, 01 chìa khoá theo phiếu nhập kho vật chứng số 108/PNK ngày 13/5/2024 của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp.

Tại cáo trạng số 159/CTr – VKS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại cơ quan điều tra, C đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp trình bày lời luận tội và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt H.Đ.C từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số IMEI: 351094567205396 và trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số IMEI: 351869078560441.
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ nhựa màu trắng và 01 chìa khóa xe nhựa, màu đen;
  • Miễn phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, điều tra viên, kiểm sát viên quận Gò Vấp đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, H.Đ.C khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở để xác định:

Do có ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông L.P.H, nên khoảng 17 giờ ngày 22/02/2024, C hẹn ông H đến bãi xe của Siêu thị Go, địa chỉ số NK, Phường Cm Quận Bđể bán 01 xe gắn máy hiệu Vision biển số 76F1 – X của chị V.T.M.H với giá 6.000.000 đồng, khi ông H và C đẩy xe ra cổng soát vé thì bị nhân viên phát hiện giữ lại và trình báo Công an. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản, an toàn công cộng, trật tự công cộng. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có thời gian tu dưỡng nhìn nhận lại hành vi sai trái, có cơ hội sửa chữa sai lầm, không lập lại hành vi phạm tội và trở thành công dân tốt cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo là người không có nghề ngH và nơi cư trú ổn định, đã từng bị Toà án nhân dân quận Phú Nhuận xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số IMEI: 351094567205396 là tài sản của bị cáo được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số IMEI: 351869078560441 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại bị cáo.
  • Đối với 01 thẻ nhựa màu trắng và 01 chìa khóa xe bằng nhựa, màu đen không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

[5] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo H.Đ.C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2/ Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo H.Đ.C 01 (một) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.

3/ Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số IMEI: 351094567205396
  • Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số IMEI: 351869078560441.
  • Tịch thu và tiêu hủy 01 thẻ nhựa màu trắng và 01 chìa khóa xe bằng nhựa, màu đen.

4/ Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về thời hạn kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND Tp.HCM (1)

- VKSND quận Gò Vấp; (3)

- Trại giam; (2)

- Bị cáo; (1)

- Bị hại; (1)

- THA HS; (2)

- Cơ quan điều tra quận Gò Vấp; (1)

- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS – ST. ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 148/2024/HS – ST.
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiểm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger