Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 148/2024/HS-ST

Ngày 12-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Bà Nguyễn Thị Vân – Nghề nghiệp: Giáo viên
  • Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Nghề nghiệp: Giáo viên.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Khắc D, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2006 (khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 25 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc D1 và bà Hoàng Thị D2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2024. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khắc D: Ông Nguyễn Khắc D1, sinh năm 1974 và bà Hoàng Thị D2, sinh năm 1984, đều cư trú tại: Thôn H, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng – là bố mẹ đẻ. Ông Nguyễn Khắc D1 có mặt, bà Hoàng Thị D2 vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc D: Bà Nguyễn Thị Thu T - Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.

Bị hại: Cháu Bùi Doãn Tùng A, sinh ngày 26/01/2010, nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A: Ông Bùi Doãn K, sinh năm 1984 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1988, đều cư trú tại: Thôn H, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng – là bố mẹ đẻ. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn F, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Đại diện Trường Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện T. Vắng mặt.

Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng: Bà Đàm Thị Bảo Y – Chức vụ Bí thư. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  • + Cháu Phạm Văn Anh K1, sinh ngày 23/8/2006. Có mặt.
  • Người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Văn Anh K1: Ông Phạm Văn C và bà Vũ Thị H1 – là bố mẹ đẻ. Ông Phạm Văn C có mặt, bà Vũ Thị H1 vắng mặt.
  • + Cháu Nguyễn Phú H2, sinh ngày 09/10/2006. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Phú H3: Ông Nguyễn Phú Đ và bà Nguyễn Thị B – là bố mẹ đẻ. Vắng mặt.
  • + Cháu Phạm Xuân H4, sinh ngày 04/11/2006. Có mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Xuân H4: Ông Phạm Xuân H5 và bà Nguyễn Thị Thanh T1 - là bố mẹ đẻ. Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Hoàng H6. Vắng mặt.
  • + Bà Vi Thị B1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 05/01/2024, tại đường liên xã T, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 do cháu Bùi Doãn Tùng A sinh ngày 26/01/2010, nơi cư trú: thôn H, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng điều khiển đi với tốc độ cao theo hướng xã L, huyện T đi thị trấn M, huyện T với xe mô tô BKS: 15B2 - 877.46 do chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981, nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện T điều khiển phía trước cùng chiều đã sang hết phần đường bên trái. Hậu quả: Bùi Doãn Tùng A tử vong tại chỗ, chị Nguyễn Thị N bị xây xát nhẹ, hai xe mô tô bị hư hỏng.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: mặt đường rộng 6m, được trải nhựa apphalt, đường thẳng, mặt đường khô ráo. Trên mặt đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng giữa lòng đường để phân chia 02 chiều đường. Hiện trường được khám nghiệm theo hướng từ xã L đi thị trấn M, điểm mốc được xác định là cột điện bê tông hình tròn không ký tự trên lề đường trái. Quá trình khám nghiệm ghi nhận các dấu vết sau: 01 vết cày xước mặt đường nhỏ, rõ, đứt đoạn dài 3,6m; điểm đầu cách lề đường trái 2,5m; điểm cuối nằm dưới bàn để chân phía sau bên trái xe mô tô BKS 15B2 - 877.46. Một xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe quay ngược hướng khám nghiệm và hướng chếch vào lề đường phải, đuôi xe hướng chếch vào lề đường trái, trục bánh trước cách lề đường trái 2,4m; trục bánh sau cách lề đường trái 1,3m. Một vết di trượt nằm trong phần lề đường trái dài 4,2m; điểm đầu cách lề đường trái 0,5m, cách trục bánh sau xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 là 18m; điểm cuối cách lề đường trái 1,8m. Trụ cổng nhà ông Nguyễn Phú K2, sinh năm 1975, nơi cư trú: thôn F, xã M, huyện T; trụ cổng bên phải (từ ngoài nhìn vào) có kích thước (2,6x0,4)m bị hư hỏng có kích thước (0,8x0,4)m, điểm đầu vết này cách điểm cuối vết di trượt trên là 0,05m. Một đám máu lẫn sợi (nghi tóc) phun dính trên bờ tường nhà ông Nguyễn Phú K2 có kích thước (15x12)cm, tâm vết này cách điểm cuối vết hư hỏng trụ cổng ở trên là 1,6m; cách đất 1,35m. Một xe mô tô BKS: 15G1 - 961.46 vẫn đứng trên 02 bánh trên lề đường trái, đầu xe quay theo hướng khám nghiệm và chếch ép sát vào bờ tường nhà ông Nguyễn Phú K2, đuôi xe chếch ra lề đường trái, trục bánh trước cách lề đường trái 1,9m, cách cột bê tông hình tròn trên lề đường trái là 0,4m, trục bánh sau cách lề đường trái là 1,7m, tương ứng tâm đám máu lẫn tóc ở trên. Một tử thi nam giới nằm úp trên yên xe mô tô BKS: 15G1 - 961.46, đầu tử thi hướng vào bờ tường nhà ông Nguyễn Phú K2, chân phải tử thi hướng ra lề đường trái, đầu tử thi cách lề đường trái 2m và tương ứng với cột điện bê tông hình tròn trên lề đường trái, chân phải tử thi cách lề đường trái 1m. Ngoài ra không phát hiện dấu vết, phương tiện nào khác liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên.

Tiến hành khám nghiệm tử thi Bùi Doãn Tùng A, Cơ quan điều tra ghi nhận các dấu vết: Thương tích tập trung chủ yếu ở vùng mặt trước phần đầu tử thi, bị thoát tổ chức não qua vết thương, gãy vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng trán, gò má, sống mũi, xương hàm trên, hàm dưới. Biến dạng cổ tay trái kiểm tra thấy trật khớp cổ tay trái. Ngoài ra còn nhiều vết xây xước da trong quá trình va chạm.

Tại Bản kết luận giám định số 06/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 29/01/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố H kết luận: nạn nhân Bùi Doãn Tùng A chết vì đa chấn thương, chấn thương não, hàm mặt nặng. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.

Tiến hành khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết:

Xe mô tô mang BKS: 15G1 - 961.46, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn xanh, Cơ quan điều tra ghi nhận các dấu vết: Toàn bộ ốp đầu xe phía trên đồng hồ công tơ mét gẫy vỡ để lộ phía trong. Cụm đèn pha, đèn chuyển hướng bên trái vỡ không còn để lộ phía trong. Tay lái xe bên trái bị cong gập từ trước về sau từ trái sang phải để lộ thanh kim loại màu đen. Phía trên ốp chắn bùn bên trái phía trước mài xước sơn trên bề mặt bám dính lại tạp chất dạng gạch nung, kích thước (10 x 9)cm chiều từ trước về sau. Ốp chắn bùn phía trước di lệch từ trái sang phải. Mặt trên phía trước ốp chắn bùn bị mài xước sơn trên diện (8 x 4)cm chiều từ trước về sau. Dây đồng hồ công tơ mét bung bật. Mặt ngoài lạng xe phía trước bên trái và may ơ bên trái bám dính tạp chất màu nâu dạng dịch, kích thước (30 x 14)cm. Vành xe phía trước bên trái bám dính lại tạp chất màu nâu dạng dịch, kích thước (40 x 5)cm, tâm vết này cách chân van 20cm. Mặt ngoài phía trên yếm xe bên trái mài xước sơn trên diện (19 x 15)cm, điểm cao nhất cách đất là 87cm chiều từ trước về sau, 3/4 yếm xe phía dưới bên trái không còn. Mặt ngoài ốp thân xe bên trái gẫy vỡ trên bề mặt bám dính tạp chất màu nâu dạng dịch trên diện (60 x 45)cm, điểm cao nhất cách đất 75cm. Bàn để chân phía trước bên trái cong vênh di lệch ép sát vào cần số, chiều từ trước về sau. Mặt ngoài ốp thân xe bên trái phía sau mài xước sơn trên diện (19 x 7)cm, điểm cao nhất cách đất 72cm, chiều từ trước về sau. Ốp thân xe phía sau bên trái vị trí nối với đèn chuyển hướng phía sau bên trái nứt dài 4cm. Bàn để chân phía sau bên trái bị di lệch, chiều từ trước về sau, trên bề mặt bị mài xước kim loại trên diện (0,8 x 0,1)cm. Mặt ngoài phía dưới khớp nối bàn để chân phía sau bên trái nứt mài xước kim loại trên diện (2,5 x 2)cm chiều từ trước về sau, trên bề mặt bám dính tạp chất dạng dịch màu nâu. Mặt ngoài ốp trên cánh yếm xe bên phải mài xước sơn trên diện (27 x 9)cm, chiều từ trước về sau từ dưới lên trên, điểm cao nhất cách đất 88cm; đoạn cánh yếm bị vỡ trên diện (18 x 10)cm, điểm thấp nhất cách đất 79cm. Các mấu hãm bung bật. Mặt ngoài phía trước máy xe bên phải bị mài xước nứt vỡ, chiều từ trước về sau, trên diện (5 x 3)cm, điểm cao nhất cách đất 32cm. Chân phanh bên phải cong vênh di lệch ép sát vào bàn để chân phía trước bên phải, chiều từ trước về sau.

Xe mô tô mang BKS: 15B2 - 877.46, nhãn hiệu Honda – Blade, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra ghi nhận các dấu vết: Gương chiếu hậu bên trái gẫy còn lại thanh đỡ bằng kim loại. Mặt ngoài ốp phía trước bên trái vị trí phía trước chân gương trái mài vết nhựa trên diện (1,5 x 0,5)cm, điểm cao nhất cách đất 107cm. Mặt ngoài bên trái phía trước ốp chắn bùn mài xước nhựa chiều từ sau về trước, từ trái qua phải trên diện (13 x 05)cm, điểm cao nhất cách đất 63cm, 1/3 phía dưới yếm xe bên trái nứt vỡ, điểm cao nhất cách đất 52cm. Mặt ngoài phía trước cần số bên trái mài xước kim loại, kích thước (1,5 x 0,1)cm, điểm cao nhất cách đất 26,5cm. Bàn để chân phía trước bên trái cong vênh di lệch, chiều từ trước về sau làm ốp cao su rách để lộ thanh kim loại bị mài xước. Toàn bộ mặt ngoài phía trước bàn để chân phía sau bên trái bị mài xước kim loại, trên bề mặt bám dính lại tạp chất màu trắng dạng bụi đường, kích thước (2,5 x 1)cm, điểm cao nhất cách đất 39cm, không rõ chiều hướng.

Tại Bản kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K3 Công an thành phố H kết luận: Không đủ căn cứ để xác định dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 15G1-961.46 với xe mô tô BKS 15B2-877.46.

Quá trình điều tra xác định, xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 do Bùi Doãn Tùng A điều khiển là của Nguyễn Phú H2, sinh năm 2006, nơi cư trú: thôn B, xã M, huyện T. Tối ngày 05/01/2024, Bùi Doãn Tùng A mượn xe mô tô trên từ Nguyễn Khắc D để điều khiển, sau đó xảy ra va chạm với chị Nguyễn Thị N.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Khắc D khai: khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 05/01/2024, Nguyễn Khắc D đến quán ăn của anh Nguyễn Hoàng H6, sinh năm 1998 ở địa chỉ thôn A, xã M, huyện T chơi cùng với Nguyễn Phú H2, sinh năm: 2006, nơi cư trú: thôn B, xã M, huyện T; Phạm Xuân H4, sinh năm: 2006, nơi cư trú: phường T, quận H và Phạm Văn Anh K1, sinh năm: 2006, nơi cư trú: thôn H, xã M, huyện T. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, K1 mượn xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 của H2 để cùng H4 đi cắt tóc tại xã L, còn D đi xe gắn máy dưới 50 cm3 của H4 chở H2 đến quán Đ1 ở dốc T, xã M, huyện T. H2 vào quán điện tử chơi còn D đi xe về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, K1 điều khiển xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 chở H4 về nhà K1, K1 đi về nhà còn H4 điều khiển xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 đến nhà D đổi xe và điều khiển xe gắn máy dưới 50cm3 đi về nhà. Sau đó, khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 quay lại quán của anh H6 ngồi chơi, lúc này Bùi Doãn Tùng A đi xe đạp điện đến chơi, sau đó đã hỏi D cho mượn xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 để về thay áo. D hỏi Tùng A đã điện cho H2 chưa thì Tùng A bảo “em điện rồi”. Do đang chơi điện tử nên D không để ý Tùng A có gọi điện cho H2 hay không và cũng không gọi điện thoại để hỏi H2 xem có đồng ý cho Tùng A mượn xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 hay không. Mặc dù D biết rõ Tùng A, sinh ngày 26/01/2010 (13 tuổi 11 tháng 10 ngày) chưa đủ tuổi để điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ những vẫn đưa chìa khóa và giao xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 cho Bùi Doãn Tùng A điều khiển trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Hoàng H6, và bà Vũ Thị B2 sinh năm: 1956, nơi cư trú: thôn B, xã M, huyện T (mẹ của anh H6). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, D được biết Tùng A điều khiển xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 xảy ra tai nạn giao thông đã tử vong tại hiện trường.

Anh Nguyễn Phú H2 khai nhận phù hợp nội dung trên. Tối ngày 05/01/2024, H2 không được Tùng A gọi điện hỏi mượn xe, không biết việc Nguyễn Khắc D tự ý giao xe cho Tùng A điều khiển.

Chị Nguyễn Thị N khai: bản thân chị N không có giấy phép lái xe hạng A1 phù hợp với loại xe đang điều khiển. Khoảng 19 giờ 40 ngày 05/01/2024, chị N điều khiển xe mô tô BKS 15B2-877.46 đi theo hướng xã L đi thị trấn M, cách lề đường phải 01m với tốc độ khoảng 25km/h. Khi đi cách khu vực ngõ nhà chị tại thôn F, xã M, huyện T khoảng 20m, chị N bắt đầu xin nhan, đi chậm lại, quan sát phía sau và phía trước không có xe nên chị bắt đầu chuyển hướng sang đường. Khi chị đã đi sang hết phần đường bên trái theo hướng di chuyển của mình, còn cách lề đường trái khoảng 02m thì nghe thấy tiếng xe mô tô đi từ phía sau xe chị di chuyển rất nhanh lao đến đâm va vào phía sau xe chị N khiến chị và xe mô tô BKS 15B2-877.46 của chị đổ nghiêng trái, bị rê một đoạn khoảng 5m, còn xe mô tô do nam thanh niên trên điều khiển tiếp tục lao thẳng lên vỉa hè trái và đâm vào giữa hai cột điện trên lề đường khiến thanh niên điều khiển xe mô tô tử vong tại chỗ.

Những người làm chứng là Phạm Xuân H4, Phạm Văn Anh K1, Nguyễn Hoàng H6 và bà Vũ Thị B2 khai nhận phù hợp nội dung trên.

Vật chứng vụ án: Xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 và xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp lần lượt là của anh Nguyễn Phú H2 và chị Nguyễn Thị N, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp đề quản lý, sử dụng.

Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, chị N đã đến thăm hỏi, động viên hỗ trợ gia đình bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A số tiền 30.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận tiền, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Khắc D, ngoài ra không còn yêu cầu, đề nghị gì khác.

Hai xe mô tô xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 và xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 bị hư hỏng nhưng chủ sở hữu không đề nghị phải bồi thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSTN ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Khắc D về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Khắc D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Khắc D như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90; Điều 91 và Điều 100 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc D từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Khắc D.
  • - Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, chị Nguyễn Thị N và gia đình bị cáo Nguyễn Khắc D đã đến thăm hỏi, động viên gia đình bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A. Chị Nguyễn Thị N đã hỗ trợ cho gia đình bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A đã nhận tiền, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Khắc D, ngoài ra không còn yêu cầu, đề nghị gì khác. Hai xe mô tô xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 và xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 bị hư hỏng nhưng chủ sở hữu không đề nghị phải bồi thường thiệt hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về dân sự.
  • - Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: Xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 và xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp lần lượt là của anh Nguyễn Phú H2 và chị Nguyễn Thị N, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp đề quản lý, sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc D:

Về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và loại hình phạt áp dụng đối với bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với mức đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã đề nghị.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Kết luận định giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi như sau: Khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 05/01/2024, tại thôn A, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Khắc D biết rõ Bùi Doãn Tùng A (thời điểm này mới 13 tuổi 11 tháng 10 ngày) là người không có giấy phép lái xe (chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô) nhưng vẫn giao xe mô tô BKS 15G1-961.46 cho Tùng A điều khiển. Hành vi của Nguyễn Khắc D đã vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ “Giao xe cơ giới...cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ”, dẫn đến việc Tùng A điều khiển xe mô tô không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát, vượt xe không đúng quy định (vi phạm quy định tại khoản 9, khoản 11 Điều 8 và khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ “Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”; “Điều khiển xe cơ giới... giành đường, vượt ẩu”; “Xe xin vượt chỉ được vượt khi ...xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”; “khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải: khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái”) gây ra hậu quả va chạm với xe mô tô BKS 15B2-877.46 do chị Nguyễn Thị N điều khiển, rồi tiếp tục mất lái đâm vào khu vực cột điện trên vỉa hè. Hậu quả xảy ra làm Tùng A tử vong tại chỗ. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Khắc D phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 264 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Khắc D gây thiệt làm chết người nên bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy: Bị cáo chưa đủ 18 tuổi, không có tài sản riêng, vẫn còn phải sống phụ thuộc vào gia đình nên căn cứ vào Điều 99 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Khắc D. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 25 ngày nên cần áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự xem xét về hình phạt cho bị cáo và không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Khắc D.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên theo khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Khắc D.

- Về dân sự:

[10] Sau khi sự việc xảy ra, chị Nguyễn Thị N và gia đình bị cáo Nguyễn Khắc D đã đến thăm hỏi, động viên gia đình bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A. Chị Nguyễn Thị N đã hỗ trợ cho gia đình bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A đã nhận tiền, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Khắc D, ngoài ra không còn yêu cầu, đề nghị gì khác. Hai xe mô tô xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 và xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 bị hư hỏng nhưng chủ sở hữu không đề nghị phải bồi thường thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về dân sự.

- Về vật chứng:

[11] Cơ quan điều tra thu giữ: Xe mô tô BKS 15G1 - 961.46 và xe mô tô BKS 15B2 - 877.46 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp lần lượt là của anh Nguyễn Phú H2 và chị Nguyễn Thị N, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp đề quản lý, sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, không có tài sản nên người đại diện hợp pháp của bị cáo – ông Nguyễn Khắc D1 và bà Hoàng Thị D2 phải nộp thay bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90; Điều 91 và Điều 100 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc D phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
  • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc D: 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự huyện T, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Khắc D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Khắc D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
  • Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Khắc D vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khắc D là ông Nguyễn Khắc D1 và bà Hoàng Thị D2 phải nộp thay bị cáo Nguyễn Khắc D 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Bị cáo Nguyễn Khắc D, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khắc D là ông Nguyễn Khắc D1, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc D (có mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khắc D là bà Hoàng Thị D2 (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Doãn Tùng A (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Nguyễn Thị N (vắng mặt tại phiên toà) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 148/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khắc Dũng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger