|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2024/DS-ST Ngày: 09-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Dũ Quang
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Ngọc T - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ: Số D đường N, Khóm A, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- - Bị đơn: Bà Dương Thị Ú, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số F, ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.(vắng mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Huỳnh Nhựt M, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số F, ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 3 năm 2024 (BL01-02) của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 21/06/2022, Ngân hàng N chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng với bà Dương Thị Ú đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng cho bà Dương Thị Ú vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng chẵn); Mục đích vay: Nuôi tôm; Lãi suất 11%/năm; thanh toán trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 12 tháng.
Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp số 149/HĐ/50/2022/HĐTC ngày 21/06/2022 được ký kết giữa bà Dương Thị Ú, ông Đoàn Huỳnh Nhựt M và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 491433, có diện tích 15.270,1m² (loại đất: trồng lúa nước còn lại), thửa số 111; tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Dương Thị Ú ngày 16/08/2018.
Tính đến hết ngày 09/9/2024, tổng nợ của bà Dương Thị Ú tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V là: 339.012.329 đồng (ba trăm ba mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.068.493 đồng; Lãi quá hạn 1.943.836 đồng.
Nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Dương Thị Ú, ông Đoàn Huỳnh Nhựt M cùng liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng N số tiền vay gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 09/9/2024 là 339.012.329 đồng (ba trăm ba mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.068.493 đồng; Lãi quá hạn 1.943.836 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ngày 10/9/2024 cho đến ngày bà Dương Thị Ú trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598 ngày 21/06/2022.
Trường hợp bà Dương Thị Ú, ông Đoàn Huỳnh Nhựt M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Dương Thị Ú, ông Đoàn Huỳnh Nhựt M theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/50/2022/HĐTC ngày 21/06/2022 để thu hồi nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M biết và Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, sau đó đã thông báo cho bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M biết kết quả phiên họp. Đồng thời, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đúng pháp luật, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M cùng liên đới thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn với số tiền 339.012.329 đồng (ba trăm ba mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.068.493 đồng; Lãi quá hạn 1.943.836 đồng và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598 ngày 21/06/2022, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ngày 10/9/2024 cho đến ngày thực tế bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N. Trường hợp bà Ú và ông M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ. Quyết định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Dương Thị Ú và ông Đoàn Huỳnh Nhựt M theo quy định pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngân hàng N có ký Hợp đồng tín dụng số 7606-7606-LAV-202200598 ngày 21/06/2022 với bên vay bà Dương Thị Ú, mục đích vay để nuôi tôm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Ú trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Ú và chồng là ông Đoàn Huỳnh Nhựt M thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng N với bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M là tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc yêu cầu bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M cùng liên đới thanh toán tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/9/2024). Tổng cộng là 339.012.329 đồng (ba trăm ba mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.068.493 đồng; Lãi quá hạn 1.943.836 đồng.
[4.1] Xét Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598 ngày 21/6/2022 Hội đồng xét xử thấy: Theo Hợp đồng tín dụng đã ký ngày 21/6/2022, bà Ú nhận tiền vay của Ngân hàng là 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 11%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; Ngân hàng nhiều lần đôn đốc bà Ú thực hiện trả nợ gốc và lãi, nhưng bà Ú vẫn không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và khoản nợ vay này đã chuyển sang nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các đương sự, các đương sự thừa nhận không ai phản đối tình tiết đã giao kết Hợp đồng, cũng không có ý kiến về việc bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép nên Hợp đồng đã ký là hoàn toàn tự nguyện; mục đích sử dụng tiền vay để nuôi tôm là không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp đồng còn có chứa đựng đầy đủ các điều kiện cơ bản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức trả nợ, phương thức tính lãi, biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Mặc dù ông Đoàn Huỳnh Nhựt M không có ký vào Hợp đồng tín dụng, nhưng bà Ú vay tiền về là để nuôi tôm, phục vụ sản xuất trong gia đình. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh M, nhưng anh M không có ý kiến hay yêu cầu gì khác, mặc nhiên ông M đã thừa nhận cùng vợ là bà Dương Thị Ú sẽ liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng. Nên căn cứ theo khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M cùng liên đới thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử (09/9/2024) là 339.012.329 đồng (ba trăm ba mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.068.493 đồng; Lãi quá hạn 1.943.836 đồng và các nghĩa vụ tương ứng khác là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598 ngày 21/6/2022: có lãi suất thỏa thuận 11%/năm, đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Ú vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị Ngân hàng xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.
[4.3] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/50/2022/HĐTC ngày 21/6/2022 Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bà Ú và ông Đoàn Huỳnh Nhựt M đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 491433, có diện tích 15.270,1m²; loại đất trồng lúa nước; thửa số 111; tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh S cấp cho bà Dương Thị Ú vào ngày 16/8/2018. Các bên tham gia có đủ điều kiện về chủ thể, hoàn toàn tự nguyện, mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức, xã hội và có đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng. Nếu bà Ú và ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là đúng theo quy định tại Điều 8 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/50/2022/HĐTC ngày 21/6/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/5/2024 (BL43-44) quyền sử dụng đất được các đương sự thế chấp cho Ngân hàng, có đặc điểm sau:
- - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số CI 491433, có diện tích 15.270,1m²; loại đất trồng lúa nước; thửa số 111; tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh S cấp cho bà Dương Thị Ú vào ngày 16/8/2018. Tài sản trên đất gồm có: 01 căn nhà cấp 4, phần còn lại là đất ao nuôi tôm.
[4.4] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông M được biết về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, nhưng ông M không có ý kiến và không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 10/9/2024), bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598 ngày 21/06/2022 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M phải cùng liên đới chịu. Do Ngân hàng N đã tạm ứng trước nên bà Ú và ông M có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền nêu trên cho Ngân hàng.
[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M có nghĩa vụ liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 100 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2024.
Căn cứ khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 7; khoản 2 Điều 8; Điều 10; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M cùng liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng N, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/9/2024) bao gồm các khoản sau:
Trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng;
Nợ lãi trong hạn: 37.068.493 đồng;
Lãi quá hạn 1.943.836 đồng.
Tổng cộng: 339.012.329 đồng (ba trăm ba mươi chín triệu không trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng),
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 10/9/2024) bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202200598 ngày 21/06/2022 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng N có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thị xã V phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 491433, có diện tích 15.270,1m²; loại đất trồng lúa nước; thửa số 111; tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh S cấp cho bà Dương Thị Ú vào ngày 16/8/2018. Tài sản trên đất gồm có: 01 căn nhà cấp 4, phần còn lại là đất ao nuôi tôm.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M phải cùng liên đới chịu. Do Ngân hàng N đã tạm ứng trước nên bà Ú và ông M có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền nêu trên cho Ngân hàng.
- Về án phí sơ thẩm:
- - Bị đơn bà Dương Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Huỳnh Nhựt M phải chịu 16.950.616 đồng (mười sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
- - Ngân hàng N không phải chịu án phí sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.033.425 đồng (tám triệu không trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004759 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Chiêu Hùng |
Bản án số 148/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 148/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
