|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2024/DS-PT Ngày 09 tháng 7 năm 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng
Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 08 và 09/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2024/TLPT- DS ngày 24/01/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp vay tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2024/QĐ-PT ngày 26/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2024/QĐ-PT ngày 19/3/2024 giữa:
*Nguyên đơn: Ông Trần Văn A, sinh năm 1968. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
*Bị đơn:
- Bà Vi Thị T, sinh năm 1950 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975 (có mặt)
Nơi cư trú: TDP Mạc, TT P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Giáp Thị T2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bà T2: Ông Trần Văn A, sinh năm 1968. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Chị Phùng Thị L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn là ông Trần Văn A trình bày: Gia đình ông kinh doanh thức ăn chăn nuôi từ năm 2010. Gia đình bà T1 thỏa thuận mua cám của gia đình ông để nuôi gà lợn đến khi hết lứa (khoảng 04-05 tháng) thì trả. Ông bán cám cho nhà bà T 03 lần. Lần đầu ngày 21/4/2012 là 448.493.000 đồng (đã bao gồm 230.000.000 đồng mà nhà ông A mua cám hộ nhà bà T ở nhà chị Hoàn L1 ở xã P, huyện T trước khi nhà ông A bắt đầu bán cám). Lần thứ hai, ngày 12/12/2015, nợ tiếp tiền cám 585.530.000 đồng. Sau đó ông ngừng cấp cám. Bà T và anh T1 lại bảo bán cám cho đợt này sẽ trả tiền ngay. Lần thứ ba, bà T và anh T1 có trả tiền mua cám mới nhưng nợ lại 24.990.000 đồng. Sau đó, bà T và anh T1 vay tiền của ông nhiều lần chưa trả, chốt sổ tiền vay là 40.000.000 đồng. Ngày 05/2/2017, chốt cả tiền cám và tiền vay là 64.990.000 đồng. Tổng nợ cả 3 lần là 1.099.013.000 đồng. Đến nay bà T, anh T1 vẫn chưa trả tiền cho vợ chồng ông nên ông yêu cầu bà T và anh T1 trả nợ gốc 1.099.013.000 đồng, trả lãi 0,83% kể từ ngày chốt nợ đến khi trả hết số nợ. Ngày 28/4/2023, ông A thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T, anh T1 và chị Phùng Thị Lê 1 vợ cũ của anh T1 phải trả cho vợ chồng ông A số tiền 1.099.013.000 đồng, trả lãi 0.83% kể từ ngày chốt các khoản nợ đến khi xét xử vụ án. Vì khi phát sinh nợ anh T1, chị L vẫn là vợ chồng, bà T cùng chăn nuôi, cùng mua cám, cùng vay tiền của ông nên bà T, chị Lê p liên đới trả nợ cùng anh T1.
* Bị đơn là bà Vi Thị T trình bày: Anh T1 là con trai bà. Năm 1998, anh T1 kết hôn với chị Phùng Thị L, sau đó ly hôn năm 2016. Khi anh T1 và chị L chưa ly hôn thì bà ở cùng anh T1, chị Lê c các cháu. Từ năm 2012 đến năm 2016, anh T1, chị Lê chăn n và lấy cám của ông Trần Văn A. Việc chăn nuôi bà không tham gia vào chỉ thỉnh thoảng cho ăn hộ. Bà không nắm được vợ chồng anh T1, chị Lê m bao nhiêu cám, thỏa thuận mua và trả nợ như thế nào. Đối với 2 giấy ghi nhận nợ của ông A, bà chỉ thừa nhận chữ ký trong mã ngày 12/12/2015 xác nhận tổng nợ là 585.530.000 đồng là chữ ký của bà để chốt số tiền cám còn nợ của anh T1, còn mã ngày 21/4/2012 và ngày 05/2/2017 không phải chữ ký của bà. Bà xác định không có trách nhiệm trả nợ cho ông A vì bà không liên quan. Bà ký xác nhận ngày 12/12/2015 để xác định số tiền lấy cám của anh T1 và ông A. Anh T1 nợ tiền cám của ông A thì phải có trách nhiệm trả nợ. Số tiền 64.990.000 đồng ngày 05/2/2017 ghi là tiền vay mới thì bà không nắm được nên bà không có ý kiến gì.
*Đồng bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Anh làm nghề chăn nuôi có mua cám của ông A, đến nay còn nợ tiền ông A. Anh đã xem giấy biên nhận mà ông A cung cấp nhưng số liệu chưa rõ ràng cần xem xét lại. Khi anh mua cám thì vợ chồng anh đã ly thân, không liên quan gì nên không yêu cầu chị L phải có trách nhiệm trả nợ cùng anh. Bà T sinh sống cùng anh, việc chăn nuôi là của cá nhân anh, không liên quan đến bà T. Anh xác định trách nhiệm trả nợ là của cá nhân anh, không liên quan đến bà T và chị L.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phùng Thị Lê k cung cấp ý kiến cho Tòa án.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn A đối với anh Nguyễn Văn T1 và bà Vi Thị T.
- Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho ông Trần Văn A và bà Giáp Thị T2 số nợ gốc là 244.246.500 đồng, nợ lãi là 254.026.000đồng, tổng cả gốc và lãi là 478.272.500 đồng (bốn trăm bẩy mươi tám triệu hai trăm bẩy mươi hai nghìn năm trăm đồng chẵn).
- Buộc bà Vi Thị T phải trả cho ông Trần Văn A và bà Giáp Thị T2 số nợ gốc là 894.766.500 đồng, số nợ lãi là 747.516.000 đồng, tổng cả gốc và lãi là 1.642.282.500 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền yêu cầu thi hành án cho các bên đương sự.
Ngày 21/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của TAND huyện Yên Thế, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà T, anh T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho ông A, bà T2; Về số tiền lãi bà T, anh T1 phải trả cho ông A, bà T2. Anh T1 chịu án phí DSST.
Ngày 18/9/2023, bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của TAND huyện Yên Thế theo hướng không chấp nhận toàn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Anh giữ nguyên kháng cáo, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông A về việc yêu cầu anh và bà T phải trả số tiền gốc
1.099.013.000 đồng. Trong gia đình việc chăn nuôi là của anh, không liên quan đến bà T là mẹ của anh. Ông A đã lừa bà T để bà T ký nhận nợ số tiền 585.530.000 đồng. Bà T không đi mua cám của ông A mà anh là người trực tiếp đi mua cám của ông A. Anh và bà T cùng sống và sinh hoạt chung trong gia đình. Anh mua cám là để phát triển kinh tế gia đình. Anh xác định đây là công nợ của riêng anh, không liên quan đến bà T và chị L (Vợ cũ của anh). Đối với số tiền 64.990.000 đồng chốt nợ ngày 05/02/2017 thì anh xác định không phải chữ ký của anh, anh yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chữ ký này. Sau khi chốt nợ, ông A có đến lấy đồ đạc của nhà anh để trừ nợ, tuy nhiên anh không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh. Ông A có yêu cầu anh trả nợ nhưng do không có nên anh chưa trả cho ông A. Đề nghị HĐXX sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông A.
- Nguyên đơn - ông Trần Văn A trình bày: Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T và anh T1 cùng có nghĩa vụ trả nợ cho ông tổng số tiền gốc của các lần vay là 1.099.013.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 9%/năm, thời gian tính lãi từ ngày chốt nợ mỗi khoản đến khi xét xử sơ thẩm, tổng số tiền lãi là 899.959.000 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa để tiến hành trưng cầu giám định chữ viết theo yêu cầu của bị đơn là anh Nguyễn Văn T1. Tại Kết luận giám định số 1447/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận: “Phòng K không kết luận giám định chữ viết có nội dung “Thọ” tại dòng thứ 8 tính từ trên xuống dưới trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Nguyễn Văn T1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) do chữ viết cần giám định có số lượng ít, không đủ đặc điểm truy nguyên.”
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi xem xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Yên Thế, yêu cầu kháng cáo của anh T1. Đại diện Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị về tiền lãi mà bà T và anh T1 phải trả cho ông A bà T2. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1, chấp nhận kháng nghị của VKSND huyện Yên Thế; sửa Bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà T, anh T1 liên đới trả nợ cho ông A, bà T2; buộc anh T1 phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bà Vi Thị T, chị Phùng Thị Lê đ được triệu tập hợp lệ tại phiên tòa mở lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do,
không có kháng cáo. HĐXX, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Xét nội dung vụ án, nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1, kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Yên Thế:
[2.1]. Về yêu cầu trả tiền gốc: Ông A yêu cầu bà T và anh T1 trả tổng số tiền gốc 1.099.013.000 đồng, thì thấy:
Theo lời khai của ông A, từ năm 2010, gia đình ông đã bán cám cho bà T, anh T1. Đến ngày 21/4/2012, các bên chốt nợ theo đó bà T và anh T1 còn nợ vợ chồng ông A số tiền 448.493.000 đồng. Ngày 12/12/2015, chốt nợ tiếp tiền cám là 585.530.000 đồng. Sau đó bà T, anh T1 có mua cám và trả tiền ngay nhưng nợ lại 24.990.000 đồng. Anh T1 và bà T vay tiền của ông nhiều lần và chốt nợ 40.000.000 đồng. Ngày 05/02/2017, chốt cả tiền cám và tiền vay là 64.990.000 đồng. Theo bà T đối với 2 giấy ghi nhận nợ của ông A, bà chỉ thừa nhận chữ ký trong mã ngày 12/12/2015 xác nhận tổng nợ là 585.530.000 đồng là chữ ký của bà để chốt số tiền cám còn nợ của anh T1, còn mã ngày 21/4/2012 và ngày 05/2/2017 không phải chữ ký của bà. Tuy nhiên bà không yêu cầu giám định đối với chữ ký này.
Theo văn bản chốt nợ giữa các bên do ông A cung cấp thì thấy: Ngày 21/4/2012, các bên chốt nợ, bà T anh T1 ký nhận nợ số tiền 448.493.000 đồng. Đến ngày 12/12/2015 các bên chốt nợ với nội dung: “Tổng nợ 12/12/2015 còn nợ cháu An T3 nợ mới cô T + Thọ tổng số tiền 585.530.000 đồng” (Bút lục 65). Qua sổ sách theo dõi do ông A ghi ngày 14/5/2015 (âm lịch) thể hiện: “Tổng cô Hợp T4 còn nợ số tiền mặt = 585.530.000 đồng”. Như vậy có căn cứ xác định đến ngày 14/5/2015 (Âm lịch) tổng số tiền cám mà anh T4 chỉ còn nợ của ông A là 585.530.000 đồng. Ông A xác định anh T4 và bà T vẫn còn nợ cả số tiền 448.493.000 đồng chốt ngày 21/4/2012 là không có căn cứ.
Đối với số tiền chốt nợ ngày 05/02/2017 là 64.990.000 đồng thì thấy: Ông A xác định đây là chữ ký của anh T4. Phía anh T4 xác định không phải là chữ do anh viết ra, anh có yêu cầu trưng cầu giám định để xác định xem có phải là chữ do anh viết hay không. Theo Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B không kết luận giám định được do chữ viết cần giám định có số lượng ít, không đủ đặc điểm truy nguyên. Do không kết luận giám định được chữ viết trong văn bản chốt nợ và ông A không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh anh T4 nợ số tiền 64.990.000 đồng nên không có căn cứ để xác định anh T4 có ký nhận số tiền nợ ông A ngày 05/02/2017 là 64.990.000 đồng.
Về trách nhiệm trả nợ: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông A không yêu cầu chị L là vợ của anh T4 cùng có nghĩa vụ trả nợ. Theo lời trình bày của bà T và anh T4 thì anh T4 là người trực tiếp mua cám chăn nuôi và xác định đây là công nợ của anh T4, không liên quan đến bà T và chị L. Nhưng theo anh T4 thì anh mua cám của ông A về chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình. Anh và bà T cùng chung sống và sinh hoạt chung trong một nhà. Đồng thời theo sổ sách theo dõi việc bán cám của ông A thì cả anh T4 và bà T thay nhau ký nhận vào sổ theo dõi bán hàng của ông A. Do đó cần xác định cả bà T và anh T4 cùng có nghĩa vụ trả nợ cho ông A bà T3. Ông A yêu cầu bà T và anh T4 bà T cùng có nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ, tuy nhiên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu trả tiền gốc của ông A, buộc anh T4 và bà T trả ông A bà T3 số tiền 585.530.000 đồng theo giấy chốt nợ ngày 12/12/2015 theo quy định tại Điều 430, khoản 3 Điều 440 của Bộ luật dân sự.
[2.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi: Ông A yêu cầu bà T, anh T4 phải trả tổng số tiền lãi 899.959.000 đồng của tổng số tiền gốc 1.099.013.000 đồng thì thấy: Theo ông A thì ngày chốt nợ là ngày phải trả tiền. Còn theo anh T4 thì sau khi chốt nợ thì ông A có đến nhà anh lấy một số đồ đạc để trả nợ, ông A có yêu cầu trả nợ nhưng anh không có tiền nên chưa trả cho ông A. Như vậy xác định thời điểm anh T4 và bà T có nghĩa vụ trả nợ là ngày các bên chốt nợ (ngày 12/12/2015). Do anh T4 và bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải trả tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ trả nợ tương ứng với số tiền gốc còn nợ là 585.530.000 đồng theo mức lãi suất 9%/năm, 0,75%/tháng, 0,025%/ngày, thời hạn tính lãi từ ngày chốt nợ 12/12/2015 đến khi xét xử sơ thẩm 06/9/2024 là 07 năm 08 tháng 25 ngày là phù hợp khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 và theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN 01/12/2010 của Ngân hàng N.
Do đó tiền lãi mà bà T, anh T4 phải trả ông A, bà T3 đối với khoản nợ gốc 585.530.000 đồng theo giấy chốt nợ ngày 12/12/2015 là 407.675.000 đồng.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng một mức lãi suất 0,83%/tháng để tính số tiền lãi từ ngày chốt nợ đến khi xét xử sơ thẩm mà bà T, anh T4 phải trả ông A, bà T3 là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T và anh T4.
Ông A yêu cầu bà T, anh T4 phải trả tổng số tiền lãi là 899.959.000 đồng của tổng số tiền gốc 1.099.013.000 đồng là không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ. Mà chỉ chấp nhận một phần yêu cầu trả tiền lãi của ông A, buộc anh T4 và bà T phải trả ông A bà T3 số tiền lãi là 407.675.000 đồng.
Bản án sơ thẩm buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho ông Trần Văn A và bà Giáp Thị T2 số nợ gốc là 244.246.500 đồng, nợ lãi là 254.026.000 đồng, tổng cả gốc và lãi là 478.272.500 đồng. Và buộc bà Vi Thị T phải trả cho ông Trần Văn A và bà Giáp Thị T2 số nợ gốc là 894.766.500 đồng, số nợ lãi là 747.516.000 đồng, tổng cả gốc và lãi là 1.642.282.500 đồng là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T và anh T1.
[2.3]. Xét kháng cáo của anh T1, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, HĐXX thấy: Anh T1 kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị HĐXX phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh T1 thừa nhận có mua cám của ông A, việc anh mua cám không liên quan đến bà T, chị L. Anh đã trả hết tiền cho ông A, không còn nợ. Nhưng anh T1 không có chứng cứ chứng minh việc đã trả hết nợ. Tại phiên tòa phúc thẩm anh T1 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới chứng minh cho việc anh đã trả hết nợ cho ông A. Như phân tích, nhận định ở trên xác định anh T1 và bà T còn nợ ông A bà T2 số tiền gốc 585.530.000 đồng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà T, anh T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho ông A, bà T2; anh T1 chịu án phí DSST là có căn cứ. Do vậy cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế và chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1 như đề nghị của đại diện Viên kiểm sát tại phiên tòa.
[3]. Về án phí:
- Án phí DSST: Do yêu cầu khởi kiện của ông A được chấp nhận một phần nên bà T và anh T1 phải chịu án phí DSST tương ứng với nghĩa vụ của mình nhưng bà T được miễn vì là người cao tuổi, anh T1 phải chịu án phí DSST. Ông A bà T2 phải chịu án phí DSST đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. (Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/201 6/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.)
- Án phí DSPT: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí DSPT theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế; chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ Điều 357, Điều 430, Điều 440, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1, Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn A. Buộc anh Nguyễn Văn T1 và bà Vi Thị T phải trả ông Trần Văn A và bà Giáp Thị T2 tổng số tiền 993.205.000 đồng (Trong đó tiền gốc là 585.530.000 đồng, tiền lãi là 407.675.000 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2, Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn A về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 và bà Vi Thị T phải trả tổng số tiền cả gốc và lãi là 1.005.767.000 đồng.
3, Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 20.890.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Nguyễn Văn A1 và bà Giáp Thị T2 phải chịu 42.173.000 đồng án phí DSST nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 17.956.000 đồng ông A1 đã nộp tại biên lai số 0008945 ngày 08/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Ông A1 bà T2 còn phải nộp 24.217.000 đồng án phí DSST.
4, Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả anh Nguyễn Văn T1 số tiền tạm ứng án phí DSPT 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0003539 ngày 18/9/2023 của Chi cục thi hành án huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
5, Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 148/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 148/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
