|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2024/DS-ST Ngày: 09-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 307/2023/DSST ngày 19/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 489/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 574/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;
Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978; Địa chỉ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn “vắng mặt, có đơn xin vắng mặt”
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Hồng D, sinh năm 1986; “vắng mặt”
Địa chỉ: 2 đường D, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các bản tự khai, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/12/2019, Bà D có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bà D1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30,000,000 đồng. Cụ thể như sau:
| Loại thẻ | Số thẻ | Hạn mức (đồng) | Ngày ký hợp đồng | Lãi suất áp dụng |
|---|---|---|---|---|
| Visa | 472074 - 5987 | 30,000,000 | 27/12/2019 | 2,6% |
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Bà D1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 39,525,144 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà D1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25,118,284 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bà D1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Bà D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/09/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 34,654,503 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (lãi suất trong hạn 2.6% x 150%).
Tính đến ngày 09/7/2024, Bà D1 còn nợ Ngân hàng với số tiền cụ thể là:
- Dư nợ gốc: 34,654,503 đồng
- Lãi quá hạn: 45,997,071 đồng
Tổng cộng: 80,651,574 đồng
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Bà D1, yêu cầu Bà D1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Bà D1 trả nợ, tuy nhiên Bà D1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nguyên đơn yêu cầu:
1. Buộc Bà Huỳnh Thị Hồng D phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 09/7/2024 là 80,651,574 (Tám mươi triệu, sáu trăm năm mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó: Nợ gốc: 34,654,503 đồng và Lãi quá hạn: 45,997,071 đồng.
2. Bà Huỳnh Thị Hồng D có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 10/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Hồng D mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, không có lời khai hoặc yêu cầu của bà D trong hồ sơ vụ án. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 4 đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bà D vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc và tham gia hòa giải. Do đó, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu quan điểm: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định pháp luật tố tụng, các đương sự đã chấp hành đúng theo qui định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, căn cứ thỏa thuận của hợp đồng tín dụng hai bên ký kết phù hợp quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn khởi kiện bà Huỳnh Thị Hồng D để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà D phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ còn thiếu. Đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bà Huỳnh Thị Hồng D có nơi cư trú tại Quận D. Do đó, căn cứ các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4.
[2] Bị đơn bà Huỳnh Thị Hồng D mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà D mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.
[3] Về nội dung: Đối với yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký kết giữa nguyên đơn và bà D, bà D đã sử dụng thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng 30,000,000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Bà D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 39,525,144 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà D đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25,118,284 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bà D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/09/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 34,654,503 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (lãi suất trong hạn 2.6% x 150%).
Tính đến ngày 09/7/2024, tổng số tiền nợ bà D còn nợ phải thanh toán là 80,651,574 (Tám mươi triệu, sáu trăm năm mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó: Nợ gốc: 34,654,503 đồng và Lãi quá hạn: 45,997,071 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bà D thanh toán toàn bộ số tiền nợ trên một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/7/2024 cho đến khi bà D thanh toán hết nợ.
Căn cứ các Điều 90, 91, 94, 95 và Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị Hồng D phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi còn thiếu tính đến ngày 09/7/2024, tổng số tiền nợ bà D còn nợ phải thanh toán là 80,651,574 (Tám mươi triệu, sáu trăm năm mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó: Nợ gốc là 34,654,503 đồng và nợ lãi quá hạn là 45,997,071 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 10/7/2024, bà D còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền còn nợ tại thời điểm thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Huỳnh Thị Hồng D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4,032,579 đồng; Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp là 1,700,000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0042700 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 207, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 90, 91, 94, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Huỳnh Thị Hồng D phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi còn thiếu tính đến ngày 09/7/2024 là 80,651,574 (Tám mươi triệu, sáu trăm năm mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó: Nợ gốc là 34,654,503 đồng và nợ lãi quá hạn là 45,997,071 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 10/7/2024, bà D còn phải chịu tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền còn nợ tại thời điểm thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký với nguyên đơn cho đến khi thanh toán hết nợ.
Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Hồng D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4,032,579 đồng (bốn triệu không trăm ba mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi chín đồng).
Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1,700,000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0042700 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
- Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
4
Bản án số 148/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 148/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chap nhan yeu cau cua nguyen don
