|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2023/HSST ngày 06/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng
- Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi, Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2023/TLST-HS ngày 01/11/2023 đối với các bị cáo:
- Họ tên: Lê Công M, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, C, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Thanh B và bà Đỗ Thị M1. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/01/2015 bị TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 7 tháng tù giam về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Ngày 19/7/2013 bị Công an huyện C xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản. Ngày 16/9/2022, bị Công an huyện C xử phạt hành chính 6.500.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/7/2023 đến ngày 01/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương.
- Họ và tên: Bùi Văn Q, sinh năm 2005. Nơi thường trú: Xóm C, xã K, huyện K, Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Bùi Văn Q1 và bà Bùi Thị X. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam từ ngày 07/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2.
- Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 2003. Nơi thường trú: Xóm S, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Bùi Văn T1 và bà Bùi Thị N. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam từ ngày 07/7/2023. Hiện bị can đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2.
- Họ và tên: Bùi Văn D, sinh năm 2003. Nơi thường trú: Xóm Thượng, xã C, K, tỉnh Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Bùi Văn D1 và bà Bùi Thị H. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam từ ngày 11/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2.
- Họ và tên: Đào Quang L, sinh năm 1997. Nơi thường trú: Thôn P, xã C, huyện A, Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Đào Đăng L1 và bà Trần Thị P. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam từ ngày 07/7/2023. Hiện bị can đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2.
- Họ và tên: Trịnh Thế T2, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện C, tp Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trịnh Văn T3 và bà Nguyễn Thị B1, vợ Nguyễn Thị N1, có 02 con lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/7/2023 đến ngày 31/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
- Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện C, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn S và bà Phùng Thị H2. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/7/2023 đến ngày 31/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương.
Các bị cáo có mặt
Người bị hại:
- Anh Doãn Văn B2, sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố N, thị trấn Q, huyện Q, H. Có đơn xin vắng mặt
- Anh Nguyễn Huy T4, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn B, xã B, huyện T, Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1977. Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện C, tp Hà Nội. Có mặt
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976. Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện C, tp Hà Nội. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/7/2023, Doãn Văn B2, Nguyễn Huy T4, Đào Quang L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Thế T2, Bùi Trung D2, Nguyễn Hữu C và Nguyễn Văn Q2 rủ nhau uống bia tại phòng trọ của Q2 thuê tại thôn V, H, C, Hà Nội. Quá trình ăn uống T4 và B2 được nghe và biết chuyện trước đó Q2 và Lê Công M có mâu thuẫn với nhau trong công việc. Khoảng 03 giờ cùng ngày, Q2 đứng dậy đi về nhà ở thôn Đ, N, C, Hà Nội ngủ. Khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày thì cả nhóm đi ngủ tại nhà trọ của Q2. Do đã uống rượu, bia, không làm chủ được hành vi bản thân, nên B2 rủ T4 đi đến nhà trọ của M thuê ở thôn V, xã H, C, Hà Nội để hỏi chuyện về việc M và Q2 mâu thuẫn với nhau thế nào. Khi đi, T4 điều khiển xe mô tô BKS 28N1-228.25 chở Bốn ngồi sau, B2 cầm theo 01 con dao quắm để tự vệ, nếu bị M đánh. Khoảng 4 giờ 52 phút cùng ngày thì T4 và B2 đi đến cổng nhà của trọ M thuê của ông Vũ Văn T5 ở thôn V, xã H, C, Hà Nội. Lúc này, ở trong nhà trọ của M, M đang ngủ cùng chị Đinh Thị L2 ở buồng ngủ tầng 3. Hà Thị H3, Lý Thị H4 và Quách Thị N2 ngủ ở buồng ngủ tầng 2. Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D đang ngủ ở phòng khách tầng một.
Khi T4 và B2 đến cổng, B2 gọi “anh M ơi” thì Q, T và Văn D đi ra sân. Thấy B2 cầm dao quắm, Q, T và Văn D đi vào nhà, mỗi người cầm 1 con dao phóng lợn (chuôi cán bằng ống tuýp sắt hàn lưỡi dao bầu ở 1 đầu) đi ra. Thấy vậy, B2 vứt dao ở ngoài cổng và xin vào để nói chuyện. Q đi lên tầng 3 hỏi M thì M bảo mở cổng cho vào. Khi vào đến nhà, M đi xuống hỏi “Chúng mày đến đây làm gì, ai bảo đến, có biết tao là ai không?”, T đi ra đóng cổng và nhặt con dao quắm của B2 mang vào nhà hỏi: “Chúng mày mang dao đến tìm anh tao làm gì?” B2 và T4 nói “em có mang dao đến đâu”. Thấy B2 và T4 không thừa nhận việc cầm dao đến để gây sự với M, M nói với Q, T và Văn D đóng cửa lại đánh bọn này 1 trận, M đi vào bếp lấy 01 con dao phóng lợn ra, T đưa dao quắm cho Văn D cầm. Sau đó M, Q, T và Văn D dùng chân tay không tát, đấm đá B2 và T4, chĩa dao về phía B2 và T4 bắt 2 người ngồi im, không tao giết. Hoảng sợ, B2 và T4 xin nhưng vẫn bị M, Q, T và Văn D đánh, bắt ở trong nhà, không cho đi về. L2 và H3 thấy ồn ào nên đi xuống, nhìn thấy nhóm của M đang đánh B2 và T4 thì L2 có can ngăn nhưng không cản được. Sau đó L2 và H3 đi lên phòng cùng H4 và N2 đóng cửa ở trong không dám ra ngoài. Q cầm dao phóng lợn chĩa mũi dao đâm về phía Bốn, B2 dơ tay ra đỡ thì trúng vào 2 tay, làm B2 bị thương tích ở tay. M nói với Q, T và Văn D: trói bọn này lại, sau đó M lấy dây điện màu trắng dài khoảng 1,8m ra, T cầm tay B2 vắt chéo ra sau giữ cho M trói. Lúc này, Q cầm dao phóng lợn canh gác ở cửa chính ra vào nhà, còn Văn D cầm dao phóng lợn và dao quắm canh gác chặn ở chân cầu thang lối ra cửa sau để ngăn không cho B2 và T4 bỏ chạy thoát.
Sau khi trói Bốn xong, M bảo trói nốt Tuân lại, thấy vậy, T4 hoảng sợ, vùng dậy bỏ chạy, T4 mở cửa chạy ra sân, khi qua cửa bị Q cầm dao chặn ở cửa, T4 giẫm vào lưỡi dao làm rách da ở ngón chân trái. T4 vẫn cố bỏ chạy ra cổng và trèo lên cổng sắt, phía trên cổng có mũi sắt nhọn bảo vệ. Khi T4 trèo được 1 chân ra ngoài cổng thì M đuổi theo, dùng chuôi dao phóng chọc vào lưng của T4, sau đó M cùng T kéo giật lôi T4 lại, không cho T4 thoát ra ngoài, làm T4 bị mũi sắt nhọn đâm vào 2 bên đùi háng và đâm vào dương vật gây thương tích. Văn D chạy ra cầm dao phóng của M rồi quay vào tiếp tục canh gác B2, B2 tiếp tục van xin Văn D và Q ở trong nhà nhưng không được. Q cầm dao phóng chạy ra vụt vào lưng của T4. Lúc này, tại phòng trọ của Q2, không thấy T4 và B2 đâu, nên L điều khiển xe máy đi tìm. Khi gần đến nhà trọ của M, T4 đứng trên cổng nhìn thấy L thì hô hoán: “Cứu, cứu em”, L thấy B2 và T4 đang bị nhóm của M bắt giữ cầm dao phóng lợn đánh ở trong nhà, nên L quay xe về gọi anh em đến giải cứu cho B2 và T4.
Lúc này, Q đứng ở cổng tiếp tục giữ T4 không cho T4 trèo qua cổng để chạy thoát. M và T đi vào nhà tiếp tục đánh B2. Do có 1 mình nên Q không giữ được T4, để T4 trèo qua cổng bỏ chạy thoát. M biết nhóm bạn của B2 và T4 biết chuyện sẽ đến đánh nhau để giải cứu B2, M điều khiển xe mô tô BKS 28N1-228.25 của B2 đi gọi người thân đến giải quyết. Còn Q, T và Văn D tiếp tục ở trong nhà đánh, canh gác B2.
Khi L về đến phòng trọ của Q2, L gọi T2, H1, C và Trung D2 dậy, thông báo việc B2 và T4 đang bị nhóm của M bắt, đánh ở nhà trọ của M, thì cả 5 người rủ nhau đi đánh nhau, trả thù và giải cứu cho B2 và T4. T2 cầm kiếm nhật điều khiển xe mô tô BKS 33P5-5177 chở H1 ngồi sau cầm dao phóng lợn; L điều khiển xe mô tô BKS 33N3-7068 chở C và Trung D2 ngồi sau cầm 2 con dao phóng lợn, sau đó tất cả điều khiển xe phóng nhanh, đi trên đường dân sinh từ thôn V, xã H, Chương M đến nhà trọ của M ở thôn V, xã H, C (khoảng cách khoảng hơn 1,5 km) làm người dân đi đường hoảng sợ né tránh. Trên đường đi đến nhà M, thì nhóm L gặp T4 đang đi bộ về, quần bị rách, chảy máu, T4 nói “Bốn đang bị trói và đánh ở trong” thì nhóm L tiếp tục đi đến nhà trọ của M, T4 cũng đi bộ quay lại. Khi đến cổng, Q ở trong nhà cầm dao phóng lợn chạy ra chửi, thách thức, thấy vậy, L, H1 và Trung D2 mỗi người cầm 1 con dao phóng lợn, T2 cầm kiếm, C nhặt gạch ở cổng, cả nhóm vừa la hét vừa xông vào nhà M, để đánh nhau. Thấy nhóm của L xông vào đông, Trung D2 và T bỏ chạy ra cửa sau để ra sau nhà trốn, Q cầm dao phóng chém lại L nhưng không trúng, sau đó Q chạy lên tầng 2 rồi nhảy xuống ra sau nhà, cùng T và Trung D2 bỏ chạy đường tắt để đi tìm M. T2 vào trong nhà không thấy nhóm của M đâu, thấy B2 đang bị trói thì đưa B2 ra sân, sau đó C cởi trói cho B2. Lúc này T4 đi bộ đến, T2 điều khiển xe đưa B2 và T4 đi viện, còn L, H1, D2 1995 và C cầm hung khí đi xe về nhà trọ của Q2. Trước khi đi về H1 nhìn thấy phía trước nhà M có lắp camera, H1 sợ M về sẽ nhận ra ai đến nhà M nên H1 đi đến dùng dao phóng lợn chém vào mắt camera, làm camera tuột dây điện ra. Khi Q, T, Trung D2 ra đường H thì gặp M đi về, nhóm của L định đuổi theo đánh nhóm của M tiếp, thì nhóm của M bỏ chạy.
Hậu quả: Doãn Văn B2 bị vết thương cẳng tay phải, bàn tay trái, chấn động não. Nguyễn Huy T4 bị vết thương vùng bẹn đùi hai bên, vết thương vùng dương vật, vết thương ngón chân I chân trái, chấn động não. Cả 2 được đưa đến Phòng khám Đ sơ cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện N3 điều trị từ ngày 07/7/2023 đến 14/7/2023 thì ra viện. Một số tài sản trong nhà trọ của M bị hư hỏng trị giá 1.350.000 đồng.
Ngày 13/7/2023, CQĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành thương tích của Doãn Văn B2 và Nguyễn Huy T4
- Tại Bản kết luận giám định số 1315 ngày 18/9/2023 của Trung tâm P1 kết luận thương tích của anh Doãn Văn B2 như sau:
- Vết thương cẳng tay phải 01%.
- Các sẹo sây sát biến đổi sắc tố da mu bàn tay trái 01%.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Doãn Văn B2 tại thời điểm giám định là 02%. Các tổn thương của anh Doãn Văn B2 do vật tày và vật có cạnh sắc gây ra. (BL 94-96)
- Tại bản kết luận giám định số 1316 ngày 18/9/2023 của Trung tâm P1 kết luận thương tích của anh Nguyễn Huy T4 như sau:
- Vết thương đùi phải 02%.
- Vết thương đùi trái 01%.
- Các vết rách da ngón I, ngón II chân trái 02 %.
- Các vết biến đổi sắc tố da vùng lưng 01%.
- Vết rách da thân dương vật 1,5%.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Huy T4 tại thời điểm giám định là 07%. Các thương tích của anh Nguyễn Huy T4 do vật tày có cạnh, vật có cạnh tương đối sắc gây ra. (BL 104-106)
Quá trình xác minh, Công an xã H có thu giữ 01 USB do M giao nộp bên trong lưu trữ 03 đoạn video trích xuất từ camera an ninh lắp ở trước cửa nhà M quay ra sân. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 mắt camera wifi, lắp tại trước cửa nhà M quay ra sân.
Tại Bản kết luận giám định số 6741 ngày 20/9/2023 của V - Bộ C1 kết luận:
- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong 3 tệp video gửi giám định.
- Tìm thấy 10 tệp video có thời gian từ thời điểm 4h52' đến 5h12' ngày 7/7/2023 trong thẻ nhớ lắp trong mắt camera Wifi. Được lưu trữ trong 01 đĩa CD-R kèm theo.
Căn cứ nội dung kết luận giám định, xác định 10 tệp video tìm thấy trong mắt camera và 3 video M cung cấp có cùng chung 1 nội dung. Phù hợp với nội dung vụ án nêu trên về các diễn biến khi xảy ra ở sân nhà M.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, xác định cửa kính ra vào phòng khách và 2 cửa sổ phòng khách bị vỡ kính, yên xe mô tô BKS 29X2-092.77 của M dựng trong nhà kho bị rách da yên xe, vỏ mắt camera wifi bị rách nứt vớ nhựa bên ngoài vỏ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 106 ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- Thay thế 01 (một) vỏ bọc yên xe mô tô BKS 29X2-092.77 bị rách, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn xám đen. Cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 07/2023, giá trị thay thế sửa chữa là 150.000 đồng.
- 01 (một) cánh cửa nhôm kính, khung nhôm màu nâu, kích thước (215x100)cm, phần kính bên trong kích thước (84,5x201)cm bị vỡ, loại kính 2 lớp trong suốt dày 6,38mm. Cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 07/2023, giá trị thay thế sửa chữa là 900.000 đồng.
- 01 (một) cánh cửa số bằng khung gỗ màu vàng kích thước (55x145)cm, ô kính thứ 2 bên phải từ dưới lên kích thước (29,5x18)cm, loại kính màu xanh đen, dày 5mm, bị vỡ. Cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 07/2023, giá trị thay thế sửa chữa là 150.000 đồng.
- 01 (một) cánh cửa số bằng khung gỗ màu vàng kích thước (55x145)cm, ô kính thứ 2 bên phải từ dưới lên kích thước (28,5x18,5)cm, loại kính màu xanh đen, dày 5mm, bị vỡ. Cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 07/2023, giá trị thay thế sửa chữa là 150.000 đồng.
- 01 (một) mắt camera, vỏ nhựa màu trắng, nhãn hiệu Imou. Tại mặt ngoài phía trước có 01 vùng nứt vỡ hở nhựa diện (7x0,05)cm, tâm vùng tại chữ “U” trong dãy chữ Imou. Cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 07/2023, giá trị thay thế sửa chữa là 300.000 đồng.
Tổng cộng số tiền là 1.650.000 đồng (một triệu, sáu trăm, năm mươi nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ:
- Lê Công M tự nguyện giao nộp:
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 22cm, bản rộng nhất 7,3cm); tổng chiều dài là 188,5cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn hắn 1 con dao ( kim loại sắc, đầu tù, dài 32cm, bản rộng nhất 6cm); tổng chiều dài 148cm.
- 01 (Một) con dao quắm tổng chiều dài 80cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm; rộng nhất 5,3cm; chuôi bằng ống tuýp sắt dài 52cm, đường kính 2,5cm
- 01 (Một) dây điện màu trắng, dạng dây truyền hình ảnh, âm thanh, dài 184cm, có 2 rắc kết nối.
- 01 (Một) mảnh dạng hỗn hợp bê tông khô, cứng, không xác định được hình dạng, kích thước (18x13x3)cm.
- 01 (Một) mảnh gạch vỡ, màu đỏ, không xác định được hình dạng, kích thước (10x5x3,5)cm.
- 01 (một) xe mô tô BKS 28N1-228.25, nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ
- 01 (một) xe mô tô BKS 29X2-092.77, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh. Xe mô tô của M bị rách yên xe sau khi xảy ra vụ án.
- Bùi Văn Q giao nộp: 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 25cm, bản rộng nhất 8cm); tổng chiều dài là 154cm. (thường gọi là dao phóng lợn).
- Bùi Văn T giao nộp: 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2,5cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi kiếm dài kim loại sắc nhọn, dài 66cm, bản rộng nhất 2,5cm); tổng chiều dài là 181cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- Đào Quang L giao nộp: 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 con dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 23cm; bản rộng nhất 6,5cm); tổng chiều dài 187cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- Trịnh Thế T2 giao nộp:
- 01 (Một) thanh kiếm tổng chiều dài 99cm; lưỡi kiếm sắc nhọn bằng kim loại dài 72cm; bản rộng nhất 3cm; phần chuôi nhựa rộng nhất 3,5cm.
- 01 (Một) xe mô tô BKS 33N3-7068, nhãn hiệu Prime, màu sơn nâu.
- Nguyễn Văn H1 giao nộp:
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 con dao bầu (sắc nhọn, dài 21cm; bản rộng nhất 7cm); tổng chiều dài 186,5cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) xe mô tô BKS 33P5-5177, nhãn hiệu Honda, màu sơn đen
- Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 (Một) mắt camera giám sát, nhãn hiệu Imou, vỏ nhựa màu trắng, mặt trước có 01 vết nứt vỡ nhựa diện (7x0,05)cm.
Ngày 08/7/2023, Công an huyện C nhận được công văn số 235 của UBND xã H nêu rõ: Ngày 07/7/2023 việc các đối tượng mang theo hung khí nguy hiểm tham gia giao thông trên đường và hò hét đuổi đánh nhau làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trật tự công cộng nơi người dân đang sinh sống, làm cho người dân hoang mang lo sợ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trên địa bàn thôn V, V, xã H. UBND xã H đề nghị Công an huyện C, TP Hà Nội có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Đào Quang L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Thế T2, Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 137/CT – VKS ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D về tội “Bắt người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, khoản 2, điều 157 và tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, khoản 1, điều 134 BLHS. Truy tố Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà:
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, về trách nhiệm bồi thường dân sự các bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của người bị hại. Các Bị cáo chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại anh Doãn Văn B2, anh Nguyễn Huy T4 trước khi mở phiên tòa có đơn xin vắng mặt, có đơn đề nghị miễn truy tố trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D về tội “Cố ý gây thương tích”. Các bị cáo và người bị hại đã hòa giải, đã nhận bồi thường đầy đủ, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu quan điểm: Trước khi mở phiên tòa người bị hại có đơn đề nghị miễn truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thẩm phán đã ra Quyết định đình chỉ xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” đối với các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D là phù hợp với quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đào Quang L từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách. Về tang vật vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
1.2. Về hành vi cố ý gây thương tích: Trước khi mở phiên tòa người bị hại anh Doãn Văn B2, anh Nguyễn Huy T4 có đơn rút yêu cầu khởi tố, yêu cầu truy tố đối với các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D về tội “Cố ý gây thương tích”. Việc rút yêu cầu của bị hại là tự nguyện, thuộc trường hợp đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự. Ngày 16/11/2023 Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ xét xử các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D về tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về nội dung:
2.1. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà, thấy phù hợp với lời khai của chính các bị cáo, người bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra, phù hợp với diễn biến, hung khí, phù hợp với kết quả giám định thương tích, cơ chế hình thành thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 04 giờ 54 phút ngày 07/7/2023 tại nhà Lê Công M thuê ở thôn V, xã H, Huyện C, TP Hà Nội, Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D đã có hành vi, sử dụng dao phóng lợn đánh đập, đe dọa dùng vũ lực để khống chế Doãn Văn B2 và Nguyễn Huy T4, bắt B2 và T4 ngồi im trong nhà, không được đi đâu, Q cầm dao phóng lợn chĩa mũi dao đâm về phía Bốn, làm B2 bị thương tích ở tay. M nói trói bọn này lại, T giữ tay B2 cho M dùng dây điện trói Bốn, Q và D canh gác các cửa ra vào, không cho B2 và T4 đi đâu, để đánh đập tra hỏi B2 và T4. Sau khi trói Bốn xong, M chuẩn bị quay sang trói T4, thì T4 hoảng sợ bỏ chạy và bị M, Q, T đuổi theo để bắt T4 lại, khi T4 đang trèo trên cổng sắt có nhiều mũi nhọn để thoát ra ngoài thì bị M, Q, T dùng phóng lợn đánh và kéo xuống gây thương tích cho T4. Hậu quả Doãn Văn B2 bị thương tích 2% và Nguyễn Huy T4 bị thương tích 07%.
Khoảng 05 giờ 05 phút Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Hữu C và Bùi Trung D2 có hành vi điều khiển nhiều xe mô tô đi với tốc độ cao, cầm theo hung khí, nghênh ngang trên đường dân sinh từ thôn V, Hoàng Văn T6 đến thôn V, Hoàng Văn T6 để đến nhà trọ của Lê Công M nhằm mục đích đánh trả thù và giải cứu cho B2 và T4. Khi đến nơi, 5 đối tượng cầm hung khí xông vào la hét đuổi đánh nhau, gây náo loạn, gây hư hỏng một số tài sản trong nhà trọ trị giá 1.350.000 đồng, gây rối trật tự công cộng, làm người dân trong khu vực hoang mang, lo sợ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên khu vực địa phương.
Hành vi sử dụng phóng lợn đánh, đe dọa dùng vũ lực, cầm phóng lợn canh cửa để khống chế anh Doãn Văn B2 và anh Nguyễn Huy T4, bắt bị hại ngồi im trong nhà, dùng dây trói tay anh B2, khi anh T4 bỏ chạy thì đuổi theo để bắt anh T4 lại, khi anh T4 đang trèo trên cổng sắt có nhiều mũi nhọn để thoát ra ngoài thì bị kéo xuống làm anh T4 bị thương tích 7% và anh B2 bị thương tích 02% của Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D đã phạm tội “Bắt người trái pháp luật” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự
Hành vi tụ tập đông người, điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, cầm theo hung khí, nghênh ngang trên đường dân sinh nhằm mục đích đánh nhau, khi đến nơi, cầm hung khí xông vào la hét đuổi đánh nhau, gây hậu quả làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm náo loạn đoạn đường liên thôn, làm người dân hoang mang, lo sợ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu vực địa phương nêu trên của Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự
Cáo trạng của VKS nhân dân huyện C truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tỏ rõ sự coi thường pháp luật, gây lo sợ bất an cho quần chứng nhân dân. Trong vụ án này các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, chi tiết về mục đích phạm tội. Nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lê Công M là người kết nối giữ vai trò chỉ đạo các bị cáo Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D bắt, giữ, trói, gây thương tích cho người bị hại trong tội “Bắt giữ người trái pháp luật” nên phải có hình phạt cao hơn các bị cáo khác cùng nhóm tội. Các bị cáo Bùi Văn Q, Bùi Văn T và Bùi Văn D làm theo sự phân công của Minh bắt, giữ trói và gây thương tích cho người bị hại có vai trò ngang nhau. Đối với các bị cáo này cũng cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra
Đối với các bị cáo Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 khi biết B2 và T4 đang bị bắt, giữ tại nhà trọ của M đã chuẩn bị hung khí điều khiển mô tô đi với tốc độ cao trên đường dân sinh, khi đến nơi cầm hung khí xông vào la hét đuổi đánh nhau, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu vực địa phương, đối với các bị cáo này cũng cần phải áp dụng hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội.
Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D, Đào Quang L, Trịnh Thế T2 và Nguyễn Văn H1 trong quá trình điều tra đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D, các bị cáo đã bồi thường trách nhiệm dân sự. Đối với bị cáo Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại tài sản bị hư hỏng do các bị cáo gây ra, hiện là lao động chính trong gia đình, nhất thời phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo T2, H1 được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe giáo dục và đấu tranh phòng chống tội phạm
2. Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D đã thỏa thuận bồi thường cho người bị hại. Anh B2, anh T4 không yêu cầu đề nghị bồi thương gì thêm. Do đó HĐXX không xem xét. Đối với số tiền 800.000 đồng Nguyễn Văn H1 nộp và 850.000 đồng Trịnh Thế T2 nộp tại Chi cục thi hành án huyện Chương Mỹ ngày 21/11/2023, đây là tiền các bị cáo tự nguyện nộp khắc phục thiệt hại do tài sản bị hư hỏng trong quá trình gây rối trật tự công cộng. Tài sản hư hỏng đã được Lê Công M sửa chữa nên trả số tiền 1.650.000 đồng cho Lê Công M.
3. Xử lý vật chứng: Cho tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 22cm, bản rộng nhất 7,3cm); tổng chiều dài là 188,5cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn hắn 1 con dao ( kim loại sắc, đầu tù, dài 32cm, bản rộng nhất 6cm); tổng chiều dài 148cm.
- 01 (Một) con dao quắm tổng chiều dài 80cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm; rộng nhất 5,3cm; chuôi bằng ống tuýp sắt dài 52cm, đường kính 2,5cm
- 01 (Một) dây điện màu trắng, dạng dây truyền hình ảnh, âm thanh, dài 184cm, có 2 rắc kết nối.
- 01 (Một) mảnh dạng hỗn hợp bê tông khô, cứng, không xác định được hình dạng, kích thước (18x13x3)cm.
- 01 (Một) mảnh gạch vỡ, màu đỏ, không xác định được hình dạng, kích thước (10x5x3,5)cm.
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 25cm, bản rộng nhất 8cm); tổng chiều dài là 154cm. (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2,5cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi kiếm dài kim loại sắc nhọn, dài 66cm, bản rộng nhất 2,5cm); tổng chiều dài là 181cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 con dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 23cm; bản rộng nhất 6,5cm); tổng chiều dài 187cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) thanh kiếm tổng chiều dài 99cm; lưỡi kiếm sắc nhọn bằng kim loại dài 72cm; bản rộng nhất 3cm; phần chuôi nhựa rộng nhất 3,5cm.
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 con dao bầu (sắc nhọn, dài 21cm; bản rộng nhất 7cm); tổng chiều dài 186,5cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) mắt camera giám sát, nhãn hiệu Imou, vỏ nhựa màu trắng, mặt trước có 01 vết nứt vỡ nhựa diện (7x0,05)cm.
Trả lại Trịnh Thế T2: 01 (Một) xe mô tô BKS 33N3-7068, nhãn hiệu Prime, màu sơn nâu. Số khung VYYDCG085TT000578, số máy VTTJL1P50FMGU00578, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong.
Trả lại Nguyễn Văn H1: 01 (Một) xe mô tô BKS 33P5-5177, nhãn hiệu Honda, màu sơn đen cũ, số khung RLHHC09027Y363571, số máy HC09E5463713, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong.
Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023.
Bị cáo Lê Công M được nhận số tiền 1.650.000 đồng (trong đó Nguyễn Văn H1 nộp 800.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001532 ký hiệu số BLTT/23 ngày 21/11/2023. Trịnh Thế T2 nộp 850.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001531 ký hiệu số BLTT/23 ngày 21/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Hà Nội)
4. Áp dụng: Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D, Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Áp dụng: Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” Các bị cáo Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
2. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 157; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Công M 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 07/7/2023 đến ngày 01/10/2023.
Xử phạt: Bùi Văn Q 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023.
Xử phạt: Bùi Văn T 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023.
Xử phạt: Bùi Văn D 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023.
2.1. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự..
Xử phạt: Đào Quang L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023.
2.2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự..
Xử phạt: Trịnh Thế T2 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Văn H1 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách của bản án treo
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 22cm, bản rộng nhất 7,3cm); tổng chiều dài là 188,5cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn hắn 1 con dao ( kim loại sắc, đầu tù, dài 32cm, bản rộng nhất 6cm); tổng chiều dài 148cm.
- 01 (Một) con dao quắm tổng chiều dài 80cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm; rộng nhất 5,3cm; chuôi bằng ống tuýp sắt dài 52cm, đường kính 2,5cm
- 01 (Một) dây điện màu trắng, dạng dây truyền hình ảnh, âm thanh, dài 184cm, có 2 rắc kết nối.
- 01 (Một) mảnh dạng hỗn hợp bê tông khô, cứng, không xác định được hình dạng, kích thước (18x13x3)cm.
- 01 (Một) mảnh gạch vỡ, màu đỏ, không xác định được hình dạng, kích thước (10x5x3,5)cm.
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 25cm, bản rộng nhất 8cm); tổng chiều dài là 154cm. (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2,5cm; 1 đầu hàn gắn 1 lưỡi kiếm dài kim loại sắc nhọn, dài 66cm, bản rộng nhất 2,5cm); tổng chiều dài là 181cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 con dao bầu (kim loại sắc nhọn, dài 23cm; bản rộng nhất 6,5cm); tổng chiều dài 187cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) thanh kiếm tổng chiều dài 99cm; lưỡi kiếm sắc nhọn bằng kim loại dài 72cm; bản rộng nhất 3cm; phần chuôi nhựa rộng nhất 3,5cm.
- 01 (Một) ống tuýp sắt đường kính 2cm; 1 đầu hàn gắn 1 con dao bầu (sắc nhọn, dài 21cm; bản rộng nhất 7cm); tổng chiều dài 186,5cm (thường gọi là dao phóng lợn).
- 01 (Một) mắt camera giám sát, nhãn hiệu Imou, vỏ nhựa màu trắng, mặt trước có 01 vết nứt vỡ nhựa diện (7x0,05)cm.
Trả lại Trịnh Thế T2: 01 (Một) xe mô tô BKS 33N3-7068, nhãn hiệu Prime, màu sơn nâu. Số khung VYYDCG085TT000578, số máy VTTJL1P50FMGU00578, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong.
Trả lại Nguyễn Văn H1: 01 (Một) xe mô tô BKS 33P5-5177, nhãn hiệu Honda, màu sơn đen cũ, số khung RLHHC09027Y363571, số máy HC09E5463713, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong.
Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023.
Bị cáo Lê Công M được nhận số tiền 1.650.000 đồng (trong đó Nguyễn Văn H1 nộp 800.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001532 ký hiệu số BLTT/23 ngày 21/11/2023. Trịnh Thế T2 nộp 850.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001531 ký hiệu số BLTT/23 ngày 21/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Hà Nội)
4. Áp dụng: Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Công M, Bùi Văn Q, Bùi Văn T, Bùi Văn D, Đào Quang L, Trịnh Thế T2, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Áp dụng: Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Dũng |
Bản án số 148/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự: bắt, giữ người trái pháp luật và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 148/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Bắt, giữ người trái pháp luật và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bắt giữ người tráp pháp luật và Gây rối trật tự công cộng
