Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2023/HSST

Ngày 05 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi

Ông Bùi Văn Mão

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HS ngày 14/9/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân T, sinh năm 1996 tại Ninh Bình. Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà D, Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà A, ngõ G, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn D và con bà Đào Thị Hồng T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Ngày 26/12/2014 Công an phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 09/8/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Điền Đức Đ, sinh năm 1987

Trú tại: Thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Mạnh Đ1. Vắng mặt

Ông Vũ Xuân Đ2. Vắng mặt

Bà Vũ Thị T2. Vắng mặt

Anh Lê Xuân C. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Xuân T và anh Bùi Đức C1 có mối quan hệ bạn bè. Vào khoảng ngày 20/7/2023, anh C1 nhờ T đến ở và trông nhà cho anh C1 thuê tại số nhà A, ngõ G, đường N, phố P, phường N, thành phố N. Trong thời gian ở nhà anh C1, do được bạn nghiện ma túy nói nên T biết chỗ bán ma túy sau đó đi mua ma túy về mục đích bán lại kiếm lời và để sử dụng cho bản thân. Cụ thể:

Chiều ngày 30/7/2023, Điền Đức Đ (là bạn bè xã hội với T) sử dụng số điện thoại 0941.573.xxx gọi đến số của T 0836.583.535 (được lắp trong máy điện thoại nhãn hiệu Nokia) hỏi mua 01 chỉ ma túy “ke”. T nói 1.500.000 đồng/01 chỉ ma túy “ke” và bảo Đồng đợi khoảng 30 phút. Khoảng 20 phút sau, Đ tiếp tục gọi điện thoại lại cho T nói “anh không lấy ke nữa mà lấy năm cái kẹo”, ý của Đ là không mua ma túy “ke” nữa mà hỏi mua 05 viên ma túy “kẹo”. T nói “giá một cái là ba trăm năm mươi”, ý là 350.000 đồng/01 viên ma túy “kẹo”, Đồng nhất trí mua. Sau khi T thỏa thuận việc mua bán ma túy với Đ, T thuê xe ôm đi đến khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy “kẹo”. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết, dáng người nghiện ma túy, T hỏi “anh có ma túy kẹo bán không”, người đàn ông gật đầu nói với T “mấy cái”, T hiểu ý và nói “năm cái”, người đàn ông nói “một triệu rưỡi”. T lấy 1.500.000 đồng đưa cho người này. Người này cầm tiền và đưa cho T 01 túi nilon màu trắng kích thước 4x6 cm, ở mép có viền chỉ màu đỏ, bên trong có 05 viên nén màu trắng hình bầu dục có chữ sau đó bỏ đi. T biết là ma túy “kẹo”, nên cầm rồi gọi điện cho Đ hẹn đến nhà trọ của C1 để bán ma túy còn T đi xe ôm về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ đến địa chỉ T đã hẹn sau đó Đ gọi điện thoại cho T ra mở cửa. Đ vào trong nhà đếm tiền rồi đưa cho T số tiền 1.750.000 đồng. T cầm tiền và ra hiệu bằng cách đặt bàn tay lên phía trước mặt bàn chỗ để túi nilon đựng 05 viên ma túy “kẹo”, Đ thấy vậy tự lấy ma túy cầm đi về sau đó một mình sử dụng hết số ma túy này. Số tiền 1.750.000 đồng sau khi bán được ma túy T đã tiêu sài cá nhân hết, T đã vất chiếc điện thoại N1 cùng sim số 0836.583.535 sau khi bán ma túy cho Đ.

Ngoài ra khoảng 17 giờ ngày 01/8/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy và bán để kiếm lời T thuê xe ôm đến khu vực đường tàu, tại thị xã B, tỉnh Thành H (T không biết địa chỉ cụ thể) mục đích tìm mua ma túy “ke, kẹo”. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết, T hỏi “anh có bán ke và kẹo không”, người đàn ông trả lời “có”, T hỏi “giá như nào”, người đàn ông trả lời “kẹo bốn trăm một viên, ke hai triệu rưỡi một chỉ”, T nói “bán cho em năm viên và một chỉ ke”, sau đó đưa cho người đàn

ông số tiền 4.500.000 đồng, người này cầm tiền và lấy trong túi quần ra đưa cho T 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 05 viên ma túy “kẹo” màu trắng hình bầu dục, 01 túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2,5 cm bên trong có chất tinh thể màu trắng là ma túy “ke”. Sau khi mua được ma túy T cất giấu vào túi quần rồi đi xe ôm chở đi về nhà trọ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ đến nhà trọ của T hỏi giá cả thuốc lắc và ma túy K để lúc nào có tiền thì mua, lúc này T đang cầm trong tay 05 viên thuốc lắc và 01 túi ma túy Ketamine đứng nói chuyện với Đ tại cửa nhà trọ thì gặp Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phố hợp với Công an phường N làm nhiệm vụ tại khu vực. Thấy T và Đ có biểu hiện nghi vấn tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ Công tác phát hiện trên tay phải của T đang cầm 05 viên nén màu trắng hình bầu dục, 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền chỉ màu xanh kích thước khoảng 2,5x2,5 cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận đây là số ma túy của T mang theo trong người để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Tổ công tác đã niêm phong số vật chứng trên vào trong phong bì ký hiệu Q1 theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ của Lê Xuân T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu sám lắp sim số 0943.879.669. Thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở, đồ vật của Lê Xuân T tại số nhà A, ngõ G, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Thu giữ trong phòng ngủ trên tầng hai của Lê Xuân T:

  • - 20 vỏ túi nilon màu trắng một mép có đường chỉ màu đỏ, kích thước 4x7 cm. Tất cả được niêm phong trong một phong bì ký hiệu K1 theo đúng quy định của pháp luật.
  • - 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 23 cm, trên mặt đĩa có 01 thẻ nhựa cứng, có chữ Vinaphone kích thước 8,5x5,4 cm và 01 ống hút hình trụ tròn có chiều dài 13,7 cm, đường kính 0,7 cm được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, hai đầu của ống hút được bọc bởi hai vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá màu vàng, 01 đầu thu Camera màu đen, hình hộp chữ nhật có kích thước 22x25x4 cm. (Ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cơ quan điều tra mở ra kiểm tra và chụp lại in ra thành bản ảnh, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng và 02 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá tất cả được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1, mã số PS1A075495. 01 đầu thu camera được niêm phong trong phong thùng bìa cát tông ký hiệu K2).

Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng 05 viên nén và khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Xuân T. Kết quả:

  • - Khối lượng 05 viên nén màu trắng là 2,2915 gam, sau khi cân xong 05 viên nén này được bỏ vào trong một túi nilon màu trắng ký hiệu M1.
  • - Khối lượng tinh thể màu trắng là 0,8806 gam, sau khi cân xong tinh thể màu trắng này được bỏ vào trong một túi nilon màu trắng ký hiệu M2.

Túi nilon ký hiệu M1, M2 được niêm phong trong phong bì ký hiệu M theo đúng quy định của pháp luật gửi đến cơ quan giám định để xác định khối lượng ma túy, loại ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 632/KL-KTHS-MT ngày 09/8/2023 của phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

  • - Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,2915 gam, là ma túy, loại MDMA.

MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng danh Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

  • - Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,8806 gam, là ma túy, loại Ketamine.

Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

H1 lại đối tượng giám định gồm:

  • + Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 1,8723 gam là ma túy, loại MDMA.
  • + Mẫu ký hiệu M2 còn lại có khối lượng 0,8005 gam, là ma túy loại Ketamine.
  • + Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 632/KL-KTHS-MT.

Tại bản Cáo trạng số: 147/CT-VKS ngày 14/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Xuân T từ 27 (Hai mươi bẩy) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 02/8/2023.

- Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo số tiền 1.750.000 đồng là tiền bị cáo bán ma tuý cho Điền Đức Đ ngày 30/7/2023.

T3 sung ngân sách Nhà nước tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi: “Vật chứng còn lại". Phong bì ký hiệu B; 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên mặt phong bì ghi “20

(hai mươi) vỏ túi nilon màu trắng một mép có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4x7)cm". Phong bì ký hiệu K1; 01 (một) túi niêm phong được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, túi niêm phong có mã số PS1A075495; 01 (một) phong bì niêm phong Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 632/KL-KTHS-MT, trên mặt phong bì có ghi M1= 1,8723 gam là ma tuý loại MDMA, M2 = 0,8005 gam là ma tuý loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T khai báo khai báo thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Biên bản niêm phong đồ vật; Biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 30/7/2023, tại số nhà A, ngõ G, đường N, phố P, phường N, thành phố N, bị cáo Lê Xuân T có hành vi bán trái phép 05 viên ma túy dạng “kẹo” với giá 1.750.000 đồng cho Điền Đức Đ. Ngoài ra khoảng 18 giờ 25 ngày 01/8/2023, Lê Xuân T có hành vi cất giấu trái phép 2,2915 gam, ma túy loại MDMA và 0,8806 gam ma túy loại Ketamine, nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của ma túy. Nhưng bị cáo không có ý thức rèn luyện bản thân, không chịu lao động chân chính, muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên đã cố ý phạm tội hai lần. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ăn năn, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý nhằm thu lời bất chính. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra bị cáo T khai mua của một người đàn ông giống người nghiện, tại khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định vào ngày 30/7/2023 (T không biết lai lịch của người này), do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh người đàn ông bán ma túy như T khai báo. Đối với số ma túy thu giữ trên tay khi bắt giữ T: Quá trình điều tra T khai mua của một người đàn ông giống người nghiện, tại khu vực đường tàu, thuộc thị xã B, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 01/8/2023 (T không biết lai lịch của người này), do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh người đàn ông bán ma túy như T khai báo.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ số ma tuý còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong theo quy định của pháp luật; 20 vỏ túi nilon màu trắng một mép có đường chỉ màu đỏ KT 4x7 cm; 01 túi niêm phong bên trong có 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng, hai vỏ đầu lọc của điếu thuốc là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

T3 sung ngân sách N nước số tiền 1.750.000 đồng bị cáo bán ma tuý cho Điền Đức Đ ngày 30/7/2023.

Đối với tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng thu của bị cáo, là công cụ bị cáo dùng để sử dụng ma tuý, có giá trị nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[9] Các vấn đề khác:

Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia lắp sim số 0941.573.671 thu giữ của Điền Đức Đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của anh Đặng Quốc H2, sinh năm 1986, trú tại phố G, phường Đ, thành phố N. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại này và sim số 0941.573.xxx đều là của anh Đặng Quốc H2 đưa cho Đồng mượn và nhờ Đ đem đi sửa. Anh H2 không biết việc Đ sử dụng 02 chiếc

điện thoại và sim số trên để liên lạc mua ma túy do đó Cơ quan điều tra Công an tỉnh N đã trả lại 02 chiếc điện thoại và sim số 0941.573.xxx cho anh Đặng Quốc H2 theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám lắp sim số 0943.879.669; 01 đầu thu camera màu đen, hình chữ nhật, kích thước 22x25x4 cm (không còn hoạt động). Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của T, không liên quan đến hành vi phạm tội của T. T đã ủy quyền cho bà Đào Thị Hồng T1 (là mẹ T), sinh năm 1963, trú tại số nhà D, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nhận lại điện thoại và đầu thu camera này. Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã trả cho bà Đào Thị Hồng T1 chiếc điện thoại và đầu thu camera nói trên cho bà T1 theo quy định.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0836.583.535 T sử dụng để liên lạc bán ma túy cho Đ. Sau khi bán ma túy cho Đ, T đã vất chiếc điện thoại và sim số trên. Quá trình xác minh chủ thuê bao 0836.583.535 là chị Nùng Thị Đ3, sinh năm 2004, trú tại xã N, huyện M, tỉnh Lào Cai. Cơ quan cảnh sát điều tra triệu tập chị Đ3 để làm việc nhưng chị Đ3 không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Do đó không có cơ sở để điều tiếp.

Đối với Điền Đức Đ: Ngày 30/7/2023 Đ đã mua của Lê Xuân T 05 viên ma túy dạng “kẹo” với giá 1.750.000 đồng tại nhà trọ của T ở số A, ngõ G, đường N, phố P, phường N, thành phố N. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/8/2023 Đ đi đến nhà trọ của T để tham khảo giá bán ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra. T3 trên tay của T 2,2915 gam ma túy MDMA và 0,8806 gam ma túy Ketamine, lúc này giữa T và Đ không có việc trao đổi mua bán ma túy, do đó số ma túy mà lực lượng Công an thu giữ thuộc quyền sở hữu của T, như vậy không có căn cứ để xử lý Đ về số ma túy này. Đối với lần mua ma túy dạng “kẹo” vào ngày 30/7/2023, Đ khai sau khi mua được ma túy đã sử dụng một mình hết, ngoài lời khai của Đ thì không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định việc sử dụng ma túy này, do đó không đủ căn cứ xử lý Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã thông báo cho chính quyền địa phương nơi Điền Đức Đồng cư trú biết để quản lý theo quy định.

Đối với anh Bùi Đức C1, sinh năm 1995, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Ngày 20/7/2023, anh C1 nhờ T đến ở và trông nhà cho anh C1 thuê tại số nhà A, ngõ G, đường N, phố P, phường N, thành phố N. Trong thời gian anh C1 không có nhà, T đi mua ma túy về mục đích bán lại kiếm lời và để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành triệu tập anh C1 nhưng anh C1 không có mặt tại địa phương nên không có căn cứ để sử lý.

[10] Bị cáo Lê Xuân T bị tuyên là có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

[11] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/8/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Xuân T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo số tiền 1.750.000 đồng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Số tiền trên hiện đang quản lý tại tài khoản số 3949 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi: “Vật chứng còn lại". Phong bì ký hiệu B; 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên mặt phong bì ghi “20 (hai mươi) vỏ túi nilon màu trắng một mép có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4x7)cm". Phong bì ký hiệu K1; 01 (một) túi niêm phong được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, túi niêm phong có mã số PS1A075495; 01 (một) phong bì niêm phong Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 632/KL-KTHS-MT, trên mặt phong bì có ghi M1= 1,8723 gam là ma tuý loại MDMA, M2 = 0,8005 gam là ma tuý loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

(Đặc điểm, chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Xuân T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDtỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2023/HSST ngày 05/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 148/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger