|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-ST
Ngày 04-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Sơn Tây.
Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình
Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Văn T, sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: khu P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: ấp K, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C và bà Dương Thị X; có vợ là Lý Hoàng Linh H và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; ngày 27/8/2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964; địa chỉ: số F, đường B, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn N, vắng mặt.
- Bà Đào Thị H1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Văn T và ông Nguyễn Văn K có quan hệ quen biết do từng bán bánh bông lan chung với nhau.
Khoảng 09 giờ ngày 12/6/2022, ông K điều khiển xe mô tô đi bán bánh bông lan dạo trên địa bàn thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương. Khi đến nhà trọ Nguyễn Văn N thuộc khu phố H, phường U, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương thì ông K dựng xe ở phía trước lối ra vào của dãy trọ để bán bánh. Một lúc sau, T cũng bán bánh bông lan dạo đi từ cuối dãy nhà trọ Nguyễn Văn N đi ra, khi thấy ông K đứng cản lối đi làm T không ra được nên T dừng lại yêu cầu ông K tránh đường. Khi ông K chưa tránh đường thì T đã điều khiển xe chạy ra nên xe của T vướng vào xe của ông K làm xe ông K ngã xuống. Do bực tức T nên ông K liền lấy 01 đoạn cây gỗ tầm vông dài khoảng 85cm có trên thùng bánh (dùng chống phụ thùng bánh) để đánh T nhưng không trúng. Sau đó, T lấy 01 đoạn kim loại từ trên thùng bánh xe mô tô của T xông tới đánh ông K nhưng không trúng. Lúc này, T có nhận cuộc gọi điện thoại đến nên T và ông K dừng đánh nhau; ông K bỏ cây tầm vông xuống đất rồi dựng xe mô tô bị ngã lên và có lời lẽ trách móc T về việc trước đây ông K từng giúp đỡ vợ chồng T mà T lại không biết ơn ông K. Sau khi ông K vừa dựng xe lên thì bất ngờ T chạy đến dùng 01 đoạn kim loại đánh trúng vào bàn tay trái của ông K, rồi tiếp tục đánh trúng vào vùng bắp tay trái và hông bên trái của ông K khoảng 02 cái. Thấy vậy, ông K liền dùng tay phải nhặt 01 đoạn gỗ tầm vông lên và lao đến đánh T 01 cái trúng vào nón bảo hiểm và khoảng 03 cái trúng vào người T. T bị ông K đánh nên bỏ chạy ra phía trước cổng dãy trọ, ông K đuổi theo nhưng do bàn tay trái của ông K bị chảy máu nên ông K dừng lại nhặt khẩu trang đắp lên vết thương để cầm máu. T liền quay lại cầm 01 dao Thái Lan bằng kim loại đâm ông K 01 cái trúng vào vùng lưng, ông K giơ tay phải lên đỡ thì bị T đâm trúng 01 cái vào ngón tay cái. Sau đó, T bỏ đi, còn ông K được người thân đưa đến Bệnh viện N1 tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị thương tích đến ngày 14/6/2022 thì xuất viện.
Ngày 08/10/2022, ông Nguyễn Văn K đến Công an phường U trình báo sự việc. Sau đó, Công an phường U chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.
Đối với 01 đoạn kim loại và 01 dao bằng kim loại mà Dương Văn T sử dụng gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 733/2022/GĐPY ngày 24/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận Nguyễn Văn K bị:
- Vết thương mặt lưng bàn tay trái 5,5 x 0,1cm, gãy xương bàn IV đã phẫu thuật kết hợp xương, sẹo lành.
- Vết thương mặt lưng đốt xa ngón I bàn tay phải 4,2 x 0,3cm, đứt gân duỗi, trật hở khớp liên đốt gần ngón I, đã phẫu thuật nối gân, sẹo lành.
- Vết thương lưng phải 1,3 x 0,2cm, sẹo lành.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn K do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 125/2024/KLGĐ-TTPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận Dương Văn T bị chấn thương cổ tay trái, ngón I tay phải đã lành. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Văn T tại thời điểm giám định là 00%.
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn K yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 259.000.000 đồng. Trong đó: chi phí điều trị thương tích là 16.000.000 đồng (điều trị lần 1 từ ngày 12 đến ngày 14/6/2024: 11.000.000 đồng; điều trị lần 2 ngày 07/3/2023: 5.000.000 đồng); thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích là 36.000.000 đồng (09 tháng); bồi thường tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng; thiệt hại do tổn hại về sức khỏe là 150.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 5.000.000 đồng; thu nhập bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị là 2.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để bồi thường cho ông Nguyễn Văn K.
Tại Cáo trạng số 157/CT-VKSTU ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị cáo trình bày ý kiến tranh luận: do bị hại đánh bị cáo trước nên bị cáo mới dùng thanh sắt đánh qua lại với bị hại; khi thấy bị hại cúi xuống định lấy gậy nên bị cáo mới lấy dao đâm sau lưng bị hại một cái, còn vết thương trên ngón tay của bị hại là do khi bị cáo đâm thì bị hại giơ tay lên nên trúng phải. Thương tích của bị hại là do bị cáo gây ra nên bị cáo đồng ý với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Bị hại Nguyễn Văn K trình bày ý kiến: đề nghị bị cáo bồi thường cho bị hại theo yêu cầu và đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, người làm chứng là ông Nguyễn Văn N và bà Đào Thị H1 vắng mặt. Quá trình điều tra những người làm chứng đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 12/6/2023 tại khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Dương Văn T có hành vi dùng 01 đoạn kim loại đánh vào bàn tay trái, bắp tay trái và dùng 01 dao bằng kim loại đâm vào vùng lưng, ngón tay phải của bị hại Nguyễn Văn K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
Xuất phát từ hành vi của bị hại dùng cây gỗ tầm vông đánh bị cáo nên bị cáo mới dùng thanh kim loại và dao là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thương tích. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ và gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an nơi gây án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng thanh kim loại và dao là hung khí nguy hiểm để tấn công bị hại sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Văn K yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 259.000.000 đồng. Trong đó: chi phí điều trị thương tích là 16.000.000 đồng (điều trị lần 1 từ ngày 12 đến ngày 14/6/2024: 11.000.000 đồng; điều trị lần 2 ngày 07/3/2023: 5.000.000 đồng); thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích là 36.000.000 đồng (09 tháng); bồi thường tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng; thiệt hại do tổn hại về sức khỏe là 150.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 5.000.000 đồng; thu nhập bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị là 2.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với chi phí điều trị thương tích 16.000.000 đồng: theo hóa đơn, chứng từ bị hại cung cấp thể hiện chi phí khám bệnh là 6.138.034 đồng. Tuy nhiên, số tiền bị hại yêu cầu bồi thường phù hợp với với tính chất, mức độ của thiệt hại; phù hợp với chi phí thực tế cần thiết, chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở theo quy định tại khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có căn cứ chấp nhận.
Đối với bồi thường tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng: tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần, mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở”. Theo quy định tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 thì mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng. Như vậy mức bồi thường tổn thất tinh thần không quá 117.000.000 đồng. Tỷ lệ thương tích của bị hại là không cao (12%), thương tích xảy ra chủ yếu tại vùng bàn tay đã lành; nguyên nhân dẫn đến thương tích của bị hại cũng một phần là do lỗi của bị hại. Do vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận số tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 28.080.000 đồng.
Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích 36.000.000 đồng: theo giấy chứng nhận thương tích thể hiện thời gian bị hại nhập viện điều trị thương tích là 03 ngày (từ ngày 12 đến ngày 14/6/2022); các hóa đơn chứng từ tại Bệnh viện quận B chỉ thể hiện tháng 3/2023 là thời gian bị hại điều trị và tái khám nhiều nhất. Do vậy, không có căn cứ xác định thời gian bị hại cứu chữa, phục hồi sức khỏe là 09 tháng như bị hại yêu cầu; chỉ có căn cứ chấp nhận thời gian là 02 tháng. Bị hại làm nghề bán bánh bông lan dạo, thu nhập không ổn định, không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương nên cần áp dụng mức lương tối thiểu vùng 4.680.000 đồng/tháng để tính thu nhập bị mất cho bị hại theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, thu nhập của bị hại bị mất trong thời gian điều trị thương tích là 4.680.000 đồng x 02 tháng = 9.360.000 đồng.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe là 150.000.000 đồng, không thuộc một trong những thiệt hại quy đinh tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự nên không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường chi phí bồi dưỡng sức khỏe là 5.000.000 đồng: chi phí này phù hợp với thương tích và thời gian điều trị, phục hồi sức khỏe của bị hại nên có căn cứ chấp nhận.
Đối với thu nhập bị mất của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị thương tích là 2.000.000 đồng: bị hại không cung cấp được chứng cứ chứng minh người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị là ai và thu nhập thực tế của người chăm sóc bị hại là như thế nào nên yêu cầu của bị hại là không có căn cứ chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 58.440.000 đồng.
[8] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[9] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội, bị kết án và phải bồi thường nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Dương Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Dương Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn K số tiền 58.440.000 đồng (năm mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng); được trừ vào số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu đồng) do bị cáo nộp bồi thường cho bị hại tại Biên lai thu số 0001612 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 43.440.000 đồng (bốn mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Dương Văn T phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 2.922.000 đồng (hai triệu chín trăm hai mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 148/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
