TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-ST Ngày 04 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Tuyết
- Bà Lê Thu Thúy
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; tại Điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Thu H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa tại Điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Xuân H1 - Kiểm sát viên; tại Điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn K - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử số 1 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và Đ cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 11 năm 1975 tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện tại: tổ D, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 và bà Đoàn Thị L; đã ly hôn vợ; có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998; tiền án:
- + Ngày 13/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 16/10/2020, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương.
- + Ngày 13/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 03/11/2023, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương.
Tiền sự: không; nhân thân: Ngày 14/12/2005, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 23/6/2008, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương. Đã chấp hành xong án phí của bản án.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: tổ I, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Vũ Đình T3, anh Nguyễn Văn Đ1; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 16/3/2024, tại đoạn đường thuộc tổ D, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H bắt quả tang Đặng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán. T4 tại túi quần bên trái đang mặc của Thoại 01 túi nilon, bên trong có 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng dạng cục, nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, gắn sim số 0896.982.283.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp trong phòng trọ của Đặng Văn T ở số B tại tổ D, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. T4 trên khay giấy để trên mặt bàn nhựa ở giữa phòng 01 gói giấy, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 375 ngày 20/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 02 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu giữ của Đặng Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,141 gam và 0,049 gam. Tổng khối lượng là 0,19 gam (không phẩy một chín).
Quá trình điều tra Đặng Văn T khai: do bản thân nghiện ma túy nên T mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 07 giờ, ngày 15/3/2024 T đến khu vực cây xăng phường H, thành phố H để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông tên H1 (không rõ địa chỉ) 01 gói ma túy loại Heroin với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T mang về phòng trọ ở phường C sử dụng một ít, số ma túy còn lại Thoại cất giấu để bán. Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T2 gọi điện cho T, nhưng T không nghe máy. Đến khoảng 14 giờ T gọi lại, thì T2 hỏi chỗ mua ma túy, sẵn có ma túy nên T bảo bán cho T2 giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) một gói và hẹn đến phòng trọ. Khoảng 30 phút sau T2 đến và cả hai trao đổi mua bán ma túy như đã thỏa thuận. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày T ra khu vực Cầu T, phường H để tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua. Người này báo giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) một gói ma túy, T đồng ý. Sau đó T cầm gói ma túy về phòng trọ chia gói ma túy thành 02 (hai) gói, mục đích bán gói nhỏ giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), gói to bán giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Đến khoảng 10 giờ ngày 16/3/2024, T mang gói ma túy đi ra khu vực sân phòng trọ để bán khi có người hỏi mua, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T2 khai nhận phù hợp với Đặng Văn T về việc đã mua 01 gói ma túy Heroine của T với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) vào ngày 15/3/2024, gói ma túy mua được T2 đã sử dụng hết. Tại đơn xin xử vắng mặt, T2 đề nghị được trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, kèm 01 sim.
Người chứng kiến - anh Vũ Đình T3, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ F, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có lời khai: vào khoảng 10 giờ ngày 16/3/2024 có chứng kiến công an bắt quả tang Đặng Văn T có hành vi tàng trữ 01 gói nilon chứa chất bột màu trắng tại túi quần bên trái và thu 01 điện thoại di động. T khai với công an mục đích tàng trữ ma túy để bán.
Tại Cáo trạng số: 1489/CT-VKSHL ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.
Hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,09 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 375/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 sim điện thoại.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone màu đen của Đặng Văn T.
Trả lại Nguyễn Văn T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen + kèm 01 sim.
Truy thu của Đặng Văn T số tiền 500.000 đồng.
Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Nguyễn Văn T2 là người đã mua 01 gói ma túy Heroin của T với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) vào ngày 15/3/2024; phù hợp với lời khai của người chứng kiến - anh Vũ Đình T3, anh Nguyễn Văn Đ1 là người chứng kiến Công an bắt quả tang Đặng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đối với Đặng Văn T; phù hợp với biên bản khám xét, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 15/3/2024 tại tổ D, khu D, phường C, thành phốh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Đặng Văn T có hành vi bán 01 (một) gói ma túy Heroine cho Nguyễn Văn T2, với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Hồi 10 giờ 00 phút, ngày 16/3/2024 tại tổ D, khu D, phường C, thành phốh H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Đặng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,19g (không phẩy mười chín gam) ma túy, loại Heroin, mục đích để bán.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: bị cáo Đặng Văn T có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Bản án số 143/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đối với Đặng Văn T chưa được xóa án tích nên tại bản án số 326/2021/HS-ST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã xác định lần phạm tội này của bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; ngày 03/11/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Đến ngày 15/3/2024, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, đã được giáo dục cải tạo nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng giáo dục bản thân, mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm phù hợp với nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[7] Về vật chứng vụ án:
- + 0,09 gam ma túy Heroin hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 375/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen thu của Đặng Văn T, quá trình điều tra xác định được bị cáo sử dụng để liên lạc mua, bán ma túy với Nguyễn Văn T2 nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sim điện thoại thu của T không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 điện thoại Nokia, màu đen kèm sim thu của Nguyễn Văn T2, quá trình điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của T2 dùng để liên hệ mua ma túy của bị cáo T. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định hành vi của T2 không đủ căn cứ xử lý về hình sự nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
[8] Về số tiền do phạm tội mà có: Đặng Văn T bán ma túy cho Nguyễn Văn T2 được số tiền 500.000 đồng. Đây là tiền do phạm tội mà có do đó cần buộc bị cáo nộp lại số tiền trên để sung ngân sách Nhà nước.
[9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, hướng xử lý vật chứng là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với Nguyễn Văn T2 có hành vi mua ma túy của Đặng Văn T để sử dụng nhưng không đủ cơ sở để xử lý hình sự, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T2.
Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho Đặng Văn T, do không biết địa chỉ, lai lịch cụ thể, nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 16/3/2024.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,09 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 375/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 sim điện thoại thu của Đặng Văn T.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen thu của Đặng Văn T.
Trả lại Nguyễn Văn T2 01 điện thoại Nokia, màu đen + kèm 01 sim.
(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 203/BB-THA ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: bị cáo Đặng Văn T có nghĩa vụ nộp số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Nguyễn Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Cúc |
Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 148/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy
