Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2025/HSST.

Ngày: 26 – 5 – 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Lê Ngọc Lâm;
  • 2/ Nguyễn Hoàng Tú.

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai A – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh năm: 1984 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Khu phố A, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: không có chỗ ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: không rõ và con bà Võ Thị B. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

  • - Ngày 04/6/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/9/2005 đã đóng án phí.
  • - Ngày 28/10/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 04/10/2010 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 24/11/2009 đã đóng án phí.
  • - Ngày 18/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 23/01/2017, chấp hành hình phạt tù, ngày 03/6/2016 đã đóng án phí.

Tạm giam từ ngày: 01/11/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Phước V, sinh năm 2004

Địa chỉ: 306/43/8 Nguyễn Văn T1, L, Nhà B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh T2

Địa chỉ: D P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T sống lang thang trên địa bàn quận B, khoảng 00 giờ 07 phút ngày 26/10/2024, T đi bộ từ cầu B đến cửa hàng GS25 tại số D đường Đ, Phường B, quận B thì nhìn thấy ông Lê Phước V đang ngủ gục trên bàn, bên cạnh có 01 chiếc điện thoại IPhone X màu trắng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi lại gần dùng tay phải lấy điện thoại bỏ vào trong túi quần rồi đi ra khỏi cửa hàng GS25, tiếp tục đi bộ về hướng đường P. Trên đường đi Thọ kiểm tra điện thoại vừa trộm cắp được thấy khóa màn hình nên tháo sim điện thoại ra rồi vào cửa hàng điện thoại số 427 P, Phường A, quận B, bán điện thoại cho 01 người đàn ông trong cửa hàng với giá 1.200.000 đồng tiền mặt. Khi bán, T nói chiếc điện thoại trên là T nhặt được. Sau đó, T dùng tiền bán điện thoại mua 01 cái ốp lưng Samsung trong suốt và 01 tai nghe dây màu xanh đen với giá 100.000 đồng ở tiệm này rồi rời đi, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 26/10/2024, ông Lê Phước V có đến Công an phường B1, quận B trình báo mất trộm 01 điện thoại Iphone X màu trắng 256GB vào ngày 26/10/2024 tại cửa hàng G, số D Đ, phường B, quận B. Qua truy xét, Cơ quan công an đã mời Nguyễn Thanh T và Lê Thanh T2 là chủ cửa hàng điện thoại số D P, Phường A, quận B về làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Riêng Lê Thanh T2 không thừa nhận việc mua máy Iphone X màu trắng vào ngày 26/10/2024.

Kết luận định giá tài sản số 318/KLĐGTS-TCKH ngày 01/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng dung lượng 256Gb có giá trị: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 số IMEI: 35431213070720247 là tài sản cá nhân của Nguyễn Thanh T.
  • - 01 ốp lưng điện thoại trong suốt, 01 tai nghe dây màu xanh đen là tài sản T mua bằng tiền bán điện thoại do T trộm cắp được.
  • - 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi dép có quai hậu màu be, 01 túi đeo chéo màu nâu là quần áo Nguyễn Thanh T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
  • - 01 USB chứa dữ liệu 02 đoạn ghi hình vụ trộm cắp tài sản trích xuất từ camera cửa hàng G, số D Đ, phường B, quận B.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Phước V yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Bản cáo trạng số 182/CT-VKSBTh ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi trộm cắp tài sản.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, xử lý thu lợi bất chính và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào khoảng 05 giờ 20 phút ngày 26/10/2024, tại cửa hàng GS25 số D đường Đ, Phường B, quận B, Nguyễn Thanh T lợi dụng lúc bị hại ông Lê Phước V ngủ gục trên bàn đã lấy trộm chiếc điện thoại iPhone X màu trắng 256Gb trị giá 3.000.000 đồng.

Do đó, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thanh T là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại iPhone X màu trắng 256Gb trị giá 3.000.000 đồng rồi bỏ trốn, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại ông Lê Phước V yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thanh T tự nguyện đồng ý bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.

[6] Về thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận: sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, bị cáo đã thu lợi bất chính được 1.200.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo T nộp lại 1.200.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 USB chứa dữ liệu 02 đoạn ghi hình vụ trộm cắp tài sản trích xuất từ camera cửa hàng G, số D Đ, phường B, quận B. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng lưu giữ chứng cứ liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần lưu vào hồ sơ để lưu trữ.
  • - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 số IMEI: 35431213070720247 là tài sản cá nhân của Nguyễn Thanh T, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
  • - 01 ốp lưng điện thoại trong suốt, 01 tai nghe dây màu xanh đen là tài sản T mua bằng tiền bán điện thoại do T trộm cắp được nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi dép có quai hậu màu be, 01 túi đeo chéo màu nâu là quần áo Nguyễn Thanh T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

[8] Đối với ông Lê Thanh T2 không thừa nhận việc mua chiếc điện thoại iPhone X từ Nguyễn Thanh T, ngoài ra không có chứng cứ nào khác chứng minh T2 có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có do đó không đủ căn cứ để xử lý hình sự với T2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  1. Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.

  1. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
  • - Lưu vào hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu 02 đoạn ghi hình vụ trộm cắp tài sản trích xuất từ camera cửa hàng G, số D Đ, phường B, quận B.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi dép có quai hậu màu be, 01 túi đeo chéo màu nâu.
  • - Trả lại cho Nguyễn Thanh T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ốp lưng điện thoại trong suốt, 01 tai nghe dây màu xanh đen.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

  1. Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp lại 1.200.000 đồng, là tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

  1. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường số tiền là 3.000.000 đồng cho ông Lê Phước V. Thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Kể từ khi ông Lê Phước V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Thanh T không bồi thường số tiền nêu trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Việc thi hành án được thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  1. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh;
  • - Công an TP.HCM (PV06);
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực quận Bình Thạnh;
  • - CC THA DS Q. Bình Thạnh;
  • - Sở Tư pháp Tp. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2025/HSST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 148/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger