TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2025/HS-ST.
Ngày: 30-6-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn và bà Nguyễn Thị Liệu
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2025/TLST-HS ngày 04/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2025 và Thông báo về việc dời thời gian mở phiên tòa ngày 23/6/2025 đối với bị cáo:
1. Bùi Thị H, sinh năm 1961 tại Hậu Giang. (Số CCCD: [...])
Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Tấn S – 1927 (đã chết) và bà Trần Thị T - 1931; Chồng: Võ Văn G - 1954, có 04 người con, nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại bản án số 92/2016/HSST ngày 15/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt tiền 12.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong tháng 05/2020.
- Ngày 17/01/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ khởi tố bị can đối với Bùi Thị H về hành vi “Đánh bạc” nhưng chưa xét xử.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 03/01/2025 được thay thế biện pháp “Bảo lĩnh” cho đến nay.
2. Lê Thị T1, sinh năm 1988 tại Sóc Trăng. (Số CCCD: [...])
Nơi đăng ký thường trú: ấp S, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký tạm trú và nơi ở hiện nay: Số A Đường A, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hùng D – 1954 và bà Châu Thị H1 - 1967; Chồng: Trần Ngọc P - 1990, có 02 người con, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không.
1
Bị cáo đầu thú ngày 30/12/2024 và được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 30 ngày 25/12/2024, tại khu vực chợ C thuộc khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai bị cáo Bùi Thị H đang thực hiện hành vi tổng hợp phơi đề và đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết của đài M để xác định số tiền thắng thua mà bị cáo Lê Thị T1 đã đánh đề với H vào ngày 24/12/2024 thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang với số tiền các bị cáo đánh bạc là 38.940.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng giữa tháng 12/2024 T1 biết H có nhận ghi số đề thắng thua bằng tiền nên Thơ đã sử dụng ứng dụng Zalo với tài khoản tên “Thien An” kết bạn với tài khoản Zalo “Sư Tỷ” của H, khi có nhu cầu đánh bạc thì T1 nhắn con số đánh và số tiền cho H, sau đó H “thả tim” sau từng tin nhắn là thể hiện việc H đã xác nhận làm căn cứ thắng thua.
Để khuyến khích việc đánh bạc, thay vì 18.000 đồng/điểm thì H giảm chỉ lấy 13.000 đồng/điểm số tiền Thơ ghi số lô số đề (việc giảm này do các đối tượng tự quy định).
Cách thức đánh đề như sau: Người chơi lựa chọn đặt cược 02 hoặc 03 số cuối bất kỳ từ giải tám đến giải đặc biệt với số điểm không giới hạn trước thời gian công bố kết quả xổ số đài miền N mở thưởng từ 16 giờ 15 phút hàng ngày.
- Đánh bao lô 02 số: Người chơi sẽ đánh 02 số cuối của 18 giải, tỷ lệ thắng ăn gấp 70 lần nhân với số lần 02 số đánh xuất hiện trong 18 giải, số tiền con bạc phải bỏ ra nhân 18 lần, trường hợp người mua đề chọn những số không trùng với kết quả xổ số thì H được hưởng toàn bộ số tiền của người mua đề.
Căn cứ bảng chiết tính phơi đề thể hiện như sau:
Số tiền đánh bạc của hai bị cáo vào ngày 24/12/2024 và kết quả thắng thua dựa trên kết quả xổ số của tỉnh Bến Tre, Bạc Liêu, Bà Rịa - Vũng Tàu (thuộc đài M mở thưởng vào 16 giờ 15 phút) với hình thức đánh bao lô như sau:
- Lô 54: đánh 150 điểm - Bến Tre, Bạc Liêu, Vũng Tàu, số tiền đánh bạc là 8.100.000 đồng.
- Lô 65: đánh 50 điểm – Vũng Tàu, số tiền đánh bạc là 900.000 đồng.
- Lô 52: đánh 50 điểm – Vũng Tàu, số tiền đánh bạc là 900.000 đồng.
- Lô 14 và 41: đánh 80 điểm - Bến Tre, Bạc Liêu, Vũng Tàu, số tiền đánh bạc là 8.640.000 đồng.
- Lô 10 và 44: đánh 25 điểm – Vũng Tàu, số tiền đánh bạc là 900.000 đồng.
- Lô 69: đánh 300 điểm – Bến Tre, số tiền đánh bạc là 5.400.000 đồng.
- Lô 05: đánh 100 điểm – Vũng Tàu, số tiền đánh bạc là 1.800.000 đồng.
- Lô 05: đánh 100 điểm – Bạc Liêu, số tiền đánh bạc là 1.800.000 đồng.
Trong số các lô trên chỉ có Lô 05: đánh 100 điểm – Bạc Liêu, bị cáo T1 trúng thưởng với số tiền trúng 10.500.000 đồng.
2
Như vậy số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là: 28.440.000 đồng + 10.500.000 đồng = 38.940.000 đồng. Tổng số tiền này quá trình điều tra các bị cáo xác định chưa thanh toán cho nhau.
Ngoài ra bị cáo H xác định từ giữa tháng 12/2024 đến khi bị bắt quả tang, số tiền thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc là 4.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Tiền mặt: 4.000.000 đồng thu giữ của H; 01 điện thoại di động hiệu iphone 7 Plus, số sê ri: C39T3LTYHFY9 không có sim của H; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A9, số sê ri: R58KB57DRTM và 01 phôi sim điện thoại đi động đăng kí số 0707068112 của T1.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSÐQ, ngày 30/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán thay đổi một phần nội dung cáo trạng về việc không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo, các vấn đề khác giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
Đối với bị cáo H, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự và hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Đối với bị cáo T1, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự và hình phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tiền mặt 4.000.000 đồng thu giữ của H; 01 điện thoại di động hiệu iphone 7 Plus, số sê ri: C39T3LTYHFY9, không gắn sim của H; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A9, số sê ri: R58KB57DRTM và 01 phôi sim điện thoại đi động đăng kí số 0707068112 của T1.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu
3
nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai lực lượng Công an đã bắt quả tang Bùi Thị H đang thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua với Lê Thị T1 bằng hình thức đánh số đề cụ thể bị cáo H đang tổng hợp số tiền thắng thua đối với Lê Thị T1 của ngày 24/12/2024 dựa trên phơi đề là tin nhắn qua ứng dụng Zalo và đối chiếu kết quả xổ số của đài M mở thưởng vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 24/12/2024, xác định tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 38.940.000 đồng.
Do đó hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đều là phụ nữ, bị cáo T1 đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo T1 có thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu, bị cáo T1 có nhân thân tốt.
[6] Về hình phạt: Hành vi ghi số đề nhằm mục đích thắng thua bằng tiền của các bị cáo thuộc trường hợp đánh bạc trái phép, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thu lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện do đó cần đưa ra xét xử và có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Tuy nhiên để cá thể hóa hình phạt cần đánh giá nhân thân, vai trò của các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo H có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về hành vi đánh bạc vào năm 2016, đến năm 2022 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, khi vụ án được khởi tố và bị cáo được tại ngoại để điều tra thì năm 2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc từ đó cho thấy bị cáo không cải tạo bản thân và vẫn tiếp tục quay lại con đường phạm tội, mặt khác trong vụ án bị cáo đóng vào trò là chủ đề, T1 là con bạc nên mức hình phạt H cao hơn T1 và cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời gian để cải tạo. Xét thấy bị cáo T1 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và có khả năng tự cải tạo do đó áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Khi áp dụng mức hình phạt Hội đồng xét xử đã xem xét, cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích ở trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung:
4
- Phạt bổ sung bị cáo H số tiền 10.000.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Tiền mặt 4.00.000 đồng của H là tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu iphone 7 Plus, số sê ri: C39T3LTYHFY9, không gắn sim của H; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A9, số sê ri: R58KB57DRTM và 01 phôi sim điện thoại đi động đăng kí số 0707068112 của T1 là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[9] Về biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước cụ thể: bị cáo H phải nộp 28.440.000 đồng, bị cáo T1 phải nộp 10.500.000 đồng.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H, Lê Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị đưa vào cơ sở giam giữ, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 03/01/2025.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị T1 số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
2. Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị H số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 46; điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Bùi Thị H phải giao nộp số tiền 28.440.000 đồng và buộc bị cáo Lê Thị T1 phải giao nộp số tiền 10.500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu iphone 7 Plus, số sê ri: C39T3LTYHFY9; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A9, số sê ri: R58KB57DRTM và 01 phôi sim điện thoại đi động đăng kí số 0707068112.
5
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2025 và Biên lai thu tiền số 0006189 ngày 15/4/2025).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền Trang |
6
Bản án số 148/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tội đánh bạc
- Số bản án: 148/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: số 148 ngày 30/6/2025 Bùi Thị Hạnh và đp
