Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 148/2025/HS-ST

Ngày: 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Cửu Long.
  2. Ông Cao Quốc Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc V - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử công khai theo hình thức trực tiếp đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 687/2024/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1379/2025/QĐST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hùng D, sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Định; CCCD: [...]; Nơi thường trú: Thôn B, xã A, huyện H, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Khonog; Cha: Nguyễn Hùng K, sinh năm 1960; Mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1972; Bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh em; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tham ô tài sản” theo Bản án số 177/2024/HS-ST.

Bị cáo Nguyễn Hùng D hiện đang chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

- Bị hại: Hộ kinh doanh Mobile T – Chủ hộ: Chị Trần Huỳnh M, sinh năm 2003;

Địa chỉ liên hệ: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Chị Lưu Nguyễn Ngọc G, sinh năm 2004;

Nơi tạm trú: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 23/10/2023, Nguyễn Hùng D đến thử việc vị trí nhân viên dọn dẹp, đăng bài quảng cáo trên các trang mạng xã hội (không trực tiếp bán hàng và quản lý hàng hóa) tại Cửa hàng điện thoại di động Mobile T (Chủ hộ: Chị Trần Huỳnh M, sinh năm 2003), địa chỉ số A Đ, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do chị Lưu Nguyễn Ngọc G làm cửa hàng trưởng nhưng chưa ký hợp đồng lao động. Trong quá trình làm việc, Nguyễn Hùng D thấy khu vực để điện thoại đang sạc của cửa hàng không có ai trông coi nên D nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 18 giờ 13 phút cùng ngày, D vào phía sau cửa hàng nơi cất điện thoại đang sạc và ngồi xuống, dùng tay phải lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro màu đen dung lượng 128GB, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dung lượng 512GB trong rổ nhựa màu xanh đang đựng nhiều loại điện thoại khác nhau. Sau đó, để tránh camera D đi vào nhà vệ sinh bên cạnh, giấu 02 điện thoại di dộng trên vào trong người rồi đi ra ngoài. Thấy các nhân viên khác đang bận tiếp khách, D nhanh chóng bước ra khỏi cửa hàng rồi gọi xe ôm chở về phòng trọ của D (không rõ địa chỉ). Tại phòng trọ, D lên mạng tìm người mua và được 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) hẹn gặp trên địa bàn thành phố T để giao dịch vào khoảng 22 giờ cùng ngày. Khi bán điện thoại trộm cắp được, D nói đây là điện thoại của D, không có nhu cầu sử dụng nên bán, người này tin tưởng và đồng ý mua 02 điện thoại trên với giá 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng. Số tiền này D đã dùng hết vào việc tiêu xài cá nhân.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Hùng D khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Kết luận định giá tài sản số 81-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - thành phố T, kết luận 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro dung lượng 128GB, màu đen (đã qua sử dụng) trị giá 13.900.000 (mười ba triệu chín trăm nghìn) đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 512GB, màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 18.400.000 (mười tám triệu bốn trăm nghìn) đồng. Tổng trị giá 02 điện thoại di động là 32.300.000 (ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động hiệu S (đã qua sử dụng);
  • 01 USB có chứa dữ liệu camera liên quan đến vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, chị Lưu Nguyễn Ngọc G đã bồi thường số tiền 38.500.000 (ba mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng cho chị Trần Huỳnh M - chủ Cửa hàng điện thoại di động Mobile T (thể hiện theo Giấy xác nhận đã nhận tiền bồi thường của chị Trần Huỳnh M). Chị Lưu Nguyễn Ngọc G yêu cầu Nguyễn Hùng D bồi thường cho chị G số tiền 32.300.000 (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSTPTĐ ngày 25/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Hùng D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hùng D về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng D từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của bị cáo D với Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
  • Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Hùng D phải bồi thường cho chị Lưu Nguyễn Ngọc G số tiền 32.300.000 (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng.
  • Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Hùng D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo D đồng ý bồi thường cho nguyên đơn dân sự chị Lưu Nguyễn Ngọc G số tiền 32.300.000 (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng.

Bị cáo D nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại và nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại và nguyên đơn dân sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và nguyên đơn dân sự.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

  1. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hùng D phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Vào khoảng 18 giờ 13 phút ngày 23/10/2023, do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Hùng D đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro dung lượng 128GB, màu đen trị giá 13.900.000 (Mười ba triệu chín trăm nghìn) đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 512GB, màu xanh trị giá 18.400.000 (Mười tám triệu bốn trăm nghìn) đồng của Cửa hàng điện thoại di động M1 tại địa chỉ số A, đường Đ, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Hùng D chiếm đoạt là 32.300.000 (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng

Hành vi của Nguyễn Hùng D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Hùng D về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với nam thanh niên có hành vi mua 02 điện thoại di động do D phạm tội mà có, do không rõ nhân thân lai lịch, thông tin liên hệ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để truy xét làm rõ là có cơ sở.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hùng D.
  2. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hùng D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Hùng D thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

  1. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, gây hoang mang, bức xúc cho quần chúng nhân dân, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
  2. Về tổng hợp hình phạt: Ngày 01/8/2024, Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hùng D 02 (hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024 nhưng được trừ đi thời hạn tạm giam trước đó là 03 tháng 10 ngày (từ ngày 16/7/2022 đến ngày 26/10/2022). Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo D.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hùng D đồng ý bồi thường cho nguyên đơn dân sự chị Lưu Nguyễn Ngọc G số tiền 32.300.000 (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng. Xét ý kiến của bị cáo dựa trên tinh thần tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn dân sự, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.
  4. Về vật chứng vụ án:
  • 01 điện thoại di động hiệu S (đã qua sử dụng). Xét bị cáo D không sử dụng điện thoại di động trên vào mục đích phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo.
  • 01 USB có chứa dữ liệu camera liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản. Xét thấy đây là tài liệu, chứng cứ nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

  1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng D 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản" theo Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Nguyễn Hùng D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2024 nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2022 đến ngày 26/10/2022.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 357, 468, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Hùng D phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự chị Lưu Nguyễn Ngọc G số tiền 32.300.000 (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng.

Kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn dân sự chị Lưu Nguyễn Ngọc Giàu C đơn đề nghị thi hành án, nếu Nguyễn Hùng D không trả đủ số tiền cho chị Lưu Nguyễn Ngọc G thì Nguyễn Hùng D phải trả lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:
  • Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Hùng D 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A03S (đã qua sử dụng).
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 (Một) USB có chứa dữ liệu camera liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 122C ngày 25/12/2024 và Phiếu nhập kho số NK25/122C ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hùng D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.615.000 (Một triệu sáu trăm mười lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần trách nhiệm dân sự trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (nơi bị cáo đang chấp hành án);
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 148/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger