| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29/5/2025
“V/v Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Long
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa do Tòa án không thu thập chứng cứ.
Ngày 29/5/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 152/2025/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Ho Thi Kieu T, sinh năm 1991 (xin vắng mặt)
Quốc tịch: Cộng hòa liên bang Đ1
Địa chỉ: B V, B, Cộng hòa liên bang Đ
- Người đại diện giao nhận văn bản tố tụng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Địa chỉ: thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Ngọ Văn K, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Ho Thi Kieu T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngọ Văn K kết hôn với nhau ngày 11/9/2013 và có đăng ký kết hôn tại UBND thành phố H. Sau khi kết hôn chị sang Cộng hòa liên bang Đ sinh sống, sau đó anh K cũng làm thủ tục sang Đức sinh sống cùng chị. Tuy nhiên chỉ thời gian ngắn sinh sống cùng nhau tại Đức, giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Do vậy vợ chồng đã cắt đứt quan hệ tình cảm, không còn liên lạc với nhau và sống ly thân. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Ngọ Văn K được ly hôn.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Ngọ Văn K có văn bản trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ho Thi K1 T kết hôn với nhau ngày 11/9/2013 và có đăng ký kết hôn tại UBND thành phố H. Sau khi kết hôn anh chị sang Đ sinh sống nhưng sau thời gian ngắn chung sống thì vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến nay anh chị đã không quan tâm đến nhau và sống ly thân. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho anh và chị Ho Thi Kieu T.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Ho Thi Kieu T có quốc tịch Đ và hiện đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ngọ Văn K. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Ho Thi Kieu T và anh K có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ho Thi Kieu T và anh Ngọ Văn K kết hôn với nhau ngày 11/9/2013 tại UBND thành phố H, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị Ho Thi Kieu T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh K. Xem xét đơn khởi kiện của chị Ho Thi Kieu T, HĐXX thấy: chị Ho Thi Kieu T xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân với nhau và không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh K cũng có ý kiến trình bày vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng và đồng ý ly hôn với chị Ho Thi Kieu T. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ho Thi Kieu T và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ho Thi Kieu T, xử cho chị Ho Thi Kieu T được ly hôn với anh Ngọ Văn K.
[4]. Về con chung: chị Ho Thi Kieu T và anh Ngọ Văn K xác định không có con chung, không đề nghị nên Tòa án không xem xét.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị Ho Thi Kieu T và anh Ngọ Văn K không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Ho Thi Kieu T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ho Thi Kieu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ho Thi Kieu T được ly hôn anh Ngọ Văn K.
- Về án phí: Chị Ho Thi Kieu T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005723 ngày 07/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- - Chị Ho Thi Kieu T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Anh Ngọ Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 148/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 148/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
