|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2025/DS-PT Ngày 24-6-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Huỳnh Đắc Đương |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Long |
| Ông Nguyễn Văn Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Thông báo mở phiên tòa số 79/TB-TA ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lâm Mộng N, sinh năm 1960; địa chỉ ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lâm Mộng N: Ông Trần Minh T, sinh năm 1992; địa chỉ ấp R, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 27/5/2025) (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Dương Thị C, sinh năm 1963; địa chỉ ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị Hòa B, sinh năm 1963;
- Ông Lâm Bảo T1, sinh năm 1990; cùng địa chỉ ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị Hòa B, ông Lâm Bảo T1: Ông Lâm Mộng N, sinh năm 1960; địa chỉ ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1962; địa chỉ ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Ông Lê Văn H1, sinh năm 1978; cùng địa chỉ Khóm P, Phường A, thị xã D, Trà Vinh (vắng mặt).
- Ngân hàng N2; Trụ sở chính số B L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Lâm Hoàng T3, chức vụ Giám đốc A chi nhánh thị xã D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Lâm Mộng N là nguyên đơn trong vụ kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 3 năm 2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 01 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn ông Lâm Mộng N trình bày: Đối với thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc trước đây do nhận chuyển nhượng lại từ ông Dương Hoàng K vào năm 2003. Khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất này thì ông K, cán bộ địa chính xã D là ông Võ Văn P và một cán bộ địa chính của huyện D tên là T4 có ra thực địa để xác định ranh và có cặm 02 cây trụ đá, 01 cây ở đầu ngoài giáp lộ, cách bức tường của ông qua đất của bà C khoảng 01 mét mấy và 01 cây trụ ở đầu trong. Như vậy thì khi bà C xây căn nhà ở ngoài lộ thì bà C mới nhổ cây trụ đá, lúc đó ông có nói với bà C thì bà C nói là do thợ làm còn bà thì đi ghe nên không biết. Thời điểm ông nhận chuyển nhượng thì giáp với thửa 345 là thửa đất 346 của cha mẹ bà C, sau này cha mẹ bà C chết thì mới chia ra cho các người con. Theo ông thì thời điểm bà H là con gái bà C xây dựng quán K3 thì ông có đứng ra tranh chấp với gia đình bà C nên có kêu địa chính ra đo nhưng khi địa chính xã đo thì hai bên lại cự cãi với nhau, rồi cũng không giải quyết được vấn đề gì, sau đó gia đình bà C cũng xây dựng xong căn nhà cấp 4 và quán K3. Đối với bức tường xây bằng gạch ống thì ông N thừa nhận là do ông xây dựng lên nhưng ông cho rằng đây không phải là ranh giới, mà ranh giới còn từ bức tường này kéo sang đất của bà C thêm khoảng 02 mét nữa. Nay ông Lâm Mộng N yêu cầu bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 phải tháo dỡ căn nhà và quán K3 để trả lại cho ông
phần đất có diện tích 161,7m² thuộc thửa đất số thửa 345 do hộ ông Lâm Mộng N đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với thửa đất số 284, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc cũng do ông nhận chuyển nhượng lại từ ông Lâm Văn B1 cùng thời điểm với thửa 345. Giáp ranh với thửa 284 là thửa đất 283 của bà Dương Thị C. Giữa ông với bà C cũng đã tranh chấp với nhau đối với ranh đất giữa 02 thửa đất này từ lâu, hai bên cứ lấn cấn với nhau về cái bờ ranh. Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì toàn bộ cái bờ này và phần mương nước (do bà C sử dụng) đều nằm trong thửa đất số 284 của ông, ông N cũng thống nhất với kết quả đo đạc này, thống nhất đường mương này do gia đình bà C sử dụng, trước đó thì nguyên cái bờ là của ông sử dụng rất rộng, xe cuốc qua lại được nhưng đã bị mương nước của bà C làm lở từ từ qua phía bờ đất này. Nay ông yêu cầu bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 trả lại toàn bộ cái bờ và phần mương thoát nước với tổng diện tích là 381,7m², đối với cạnh hướng Nam của thửa 284 giáp với đường ống dẫn nước thô, thì phần đất tranh chấp này cũng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N, trước đó hai bên cũng không có tranh chấp gì. Nay ông yêu cầu bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 phải trả lại diện tích đất là 141,7m² thuộc thửa đất số 284.
Bị đơn bà Dương Thị C trình bày: Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N. Thửa đất 346 tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do bà đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc thửa đất này là của cha mẹ của bà là ông Dương Văn K1 và bà Huỳnh Thị N1. Bà đã ở trên thửa đất này từ khi còn nhỏ đến lúc lấy chồng, đến khi cha mẹ chết (mẹ chết năm 1998, cha chết năm 2002) thì để lại thửa đất này cho bà, đến năm 2006 thì bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với phần ranh giới giữa thửa 345 và thửa 346 từ trước đến nay vẫn ổn định, không có tranh chấp gì. Ranh giới trước đây là có cây trụ đá nằm ngay vị trí bức tường ở giáp lộ, ông N có làm hàng dây chì gai kéo đến khu mộ, qua khu mộ ông N làm tiếp một đoạn hàng rào chì gai đến cuối đất, sau này chính ông N là người dỡ đoạn chì gai và xây lên 02 bức tường như hiện nay. Khi gia đình bà xây dựng căn nhà cấp 4 và quán K3 thì ông N cũng không có tranh chấp gì, vợ chồng bà H kinh doanh quán K3 đến 06 năm mới ngưng hoạt động, sau khi vợ chồng bà H ngưng kinh doanh thì ông Lâm Mộng N có thuê quán Karaoke để kinh doanh tiếp khoảng 01 năm mới trả lại. Ngoài ra trên phần đất tranh chấp còn có 04 ngôi mộ của ông bà bên gia đình của bà, hai bên cũng không có tranh chấp gì về việc thăm, chăm sóc những ngôi mộ này. Việc đất tranh chấp do gia đình bà sử dụng từ trước đến nay nhưng lại nằm trong thửa 345 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N thì bà nghĩ là do thời điểm cấp giấy là do tư liệu cũ, không chính xác giữa diện tích trong Giấy chứng nhận với hiện trạng. Do đó bà không
đồng ý trả lại diện tích 161,7m² theo yêu cầu của ông N. Đối với yêu cầu của ông N về diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa 284 của ông N thì bà cũng không đồng ý trả. Ông Nguyễn Văn T2, ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị Như H thống nhất với ý kiến của bà Dương Thị C, không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N. Bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 phải giao lại cho hộ ông Lâm Mộng N phần đất có diện tích 347,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Giao cho bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 176,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Mộng N về việc yêu cầu bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 tháo dỡ công trình để trả lại diện tích đất 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Giao cho bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024 nguyên đơn ông Lâm Mộng N kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo hướng buộc ông Nguyễn Văn T2, bà Dương Thị C bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 phải tháo dỡ công trình nhà cửa để trả lại cho ông N diện tích đất 161,7m² thuộc thửa 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Buộc bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 trả lại cho ông N phần đất có diện tích 176,2m², thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá
trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024 nguyên đơn ông Lâm Mộng N kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên được chấp nhận.
Xét kháng cáo nguyên đơn Lâm Mộng N yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn trả lại cho ông N diện tích 176,2m² thuộc thửa đất 284 (phần B) do ông N đứng tên, nhận thấy: Theo kết quả khảo sát và Công văn số 212, 213/CNTXDH của Ủy ban nhân dân thị xã D cùng ngày 31 tháng 01 năm 2024 xác định 176,2m² thuộc thửa đất 284 và diện tích 161,7m² thuộc thửa đất 345 do ông Lâm Mộng N đứng tên. Tuy nhiên, thửa đất 283 có nguồn gốc là của ông Dương Hoàng K2 và bà Huỳnh Thị N1 cha mẹ của bị đơn kê khai năm 1998 là thửa đất 283 diện tích 12.580m², năm 2002 ông K2 chết bà C được hưởng thửa đất 283, năm 2006 bà C được cấp giấy đất lần đầu; thửa đất 346 diện tích 2.357m² có nguồn gốc là của bà Huỳnh Thị N1, sau khi bà N1 chết thì bà Dương Thị C được hưởng thừa kế. Thửa đất 284 diện tích 12.957m² là của ông Lâm Văn B1 được cấp giấy năm 2002 và thửa đất 345 là của ông Dương Hoàng K được cấp giấy năm 2003 và chuyển nhượng lại cho nguyên đơn ông Lâm Mộng N ngày 12 tháng 8 năm 2003. Quá trình sử dụng đất bà Dương Thị C đã sử dụng thửa đất 283, 346 từ trước năm 1983 đến nay đối với phần C thửa đất 284 tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lâm Mộng N, thực tế có bức tường do ông N xây dựng và tính từ bức tường kéo ra 02m mới tới nhà của bị đơn, nhà này được xây dựng từ năm 2010 và nguyên đơn không tranh chấp và ông N cũng đã xây bức tường. Như vậy, bị đơn đã sử dụng ổn định liên tục từ đó đến nay là trên 30 năm được quy định tại Điều 180, 182, 183, 236 Bộ luật dân sự năm 2015. Phần tranh chấp diện tích 161,7m² thuộc thửa đất 345 của nguyên đơn đứng tên gồm phần B diện tích 19,1m² hiện nay có 04 ngôi mộ của ông, bà phía bị đơn; phần A diện tích 82,9m², phần C diện tích 59,7m² không có trụ ranh nhưng có bức tường bằng gạch ống do ông N xây dựng, nên đã có sự phân ranh giới rõ ràng, trên đất có 01 dừa, 01 cây mù u và 01 bụi tre tự mọc do gia đình bà C sử dụng; có một phần quán Karaoke Sao Vàng của vợ chồng bà H, ông H1 xây dựng năm 2010 và hoạt động liên tục trong 06 năm không có tranh chấp gì và sau đó nguyên đơn có thuê quán karaoke này để kinh doanh. Vì vậy, ông N nhận chuyển nhượng thửa đất 345 ông không biết phần đất này của ông.
Công văn số 3175/UBND-NC ngày 03/10/2024 trả lời tư liệu địa chính năm 1996 (hoàn thành phê duyệt năm 1998), tại ranh giới thửa đất số 345, 346,
283 và 284 tờ bản đồ số 5 trong thực hiện đo đạc bản đồ, thành lập hồ sơ địa chính năm 1996, phương pháp lập bản đồ địa chính sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa để lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 trên toàn khu vực xã D. Khu vực thửa đất 345, 346, 283 và 284 và toàn bộ khu vực đất nằm trong phạm vi tờ không ảnh phục vụ đo vẽ không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, kết quả đo thực tế và tư liệu đo đạc năm 1998 cho thấy ảnh bị “dạt”, “lệch" theo phương ngang dẫn đến việc sai lệch về vị trí và kích thước trong ảnh so với thực địa, khi đo đạc trực tiếp, đơn vị đo đạc không do kiểm tra thực tế, điều tra.
Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Lâm Mộng N kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- [2] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo: Nguyên đơn ông Lâm Mộng N kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N buộc bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 tháo dỡ công trình để trả lại diện tích đất 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại Giồng G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Buộc bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2 trả lại phần đất diện tích 176,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Xét thấy, theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã D thể hiện diện tích tranh chấp là 161,7m² thuộc thửa 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lâm Mộng N. Trên sơ đồ khu đất thể hiện phần đất tranh chấp là phần A, B, C. Tại phần C của sơ đồ khu đất nằm toàn bộ trong thửa 345 của hộ ông Lâm Mộng N. Tuy nhiên, trên phần C này ông Lâm Mộng N có xây một bức tường ngăn giữa hai bên là gia đình ông N và gia đình bà Dương Thị C. Bà Dương Thị C xây căn nhà trên phần C này từ năm 2010, sau đó ông Lâm Mộng N mới xây dựng bức tường này. Khi xây dựng căn nhà và bức tường yêu trên thì giữa hai bên không có tranh chấp, như vậy các bên đã xác định tường rào là ranh giới giữa các bên. Đối với phần B của sơ đồ khu đất có diện tích 19,1m² nằm trong thửa 345 của ông Lâm Mộng N nhưng trên thực tế hiện trạng sử dụng đất có 04 ngôi mộ của ông bà của bà Dương Thị C trên phần đất này. Đối với phần A của sơ đồ khu đất có diện tích 82,9m² cũng nằm trong thửa 345 của ông Lâm Mộng N, tuy nhiên trên thực tế không có trụ ranh nhưng có một đoạn bức tường bằng gạch ống do ông Lâm Mộng N xây dựng thì bức tường kéo về hướng Đông khoảng 2m là đất đang tranh chấp có các cây lâu năm như cây dừa, cây mùa u và một bụi tre mọc tự nhiên do gia đình bà Dương Thị C sử dụng và từ bức tường trở về hướng Tây là đất của ông N đang sử dụng, như vậy có sự phân ranh rõ ràng giữa các bên. Ngoài ra, trong phần diện tích 82,9m² còn có một phần quán karaoke Sao Vàng của vợ chồng Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 xây dựng từ năm 2020 không có ai tranh chấp. Xét thấy phần đất diện tích 161,7m² nằm trong thửa đất số 345 của hộ ông Lâm Mộng N, nhưng trên thực tế từ khi ông Lâm Mộng N chuyển nhượng của ông Dương Hoàng K thì ông N không có sử dụng phần đất này mà vẫn do gia đình bà Dương Thị C sử dụng ổn định. Ông Lâm Mộng N đã xây tường rào phân định ranh giới giữa hai bên và sử dụng ổn định cho đến nay. Mặt khác tại Công văn số 3175/UBND-NC ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh xác định đối với tư liệu địa chính năm 1996 tại ranh giới giữa các thửa 345, 346, 283 và 284, tờ bản đồ số 5 trong thực hiện đo đạc bản đồ, thành lập hồ sơ địa chính năm 1996, phương pháp lập bản đồ địa chính, sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa để lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/5000 trên toàn khu vực xã D. Khu vực thửa đất 345, 346, 283 và 284 và toàn bộ khu vực đất nằm trong phạm vi tờ không ảnh phục vụ đo vẽ không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật. Kết quả đo thực tế và tư liệu đo đạc năm 1998 cho thấy ảnh bị “dạt” “lệch” theo hướng ngang dẫn đến việc sai lệch về vị trí và kích thước trong ảnh so với thực địa. Khi đo đạc trực tiếp, đơn vị đo đạc không không đo, kiểm tra thực tế, điều tra đánh giá thực địa nên sau khi scan, vẽ bản đồ địa chính dẫn đến sai sót. Đối với loại sai sót này không thể làm căn cứ vào tư liệu địa chính để xác định ranh giới sử dụng đất của các bên và Ủy ban nhân dân thị xã D xác định trường hợp cấp giấy theo tư liệu địa chính năm 1998 đối với thửa đất số 345, 346, 283, 284 là chưa đảm bảo về vị trí, kích thước và diện tích. Từ những cơ sở trên, án sơ thẩm công nhận diện tích 161,7m² thuộc thửa 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 quản lý, sử dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với phần đất tranh chấp giáp ranh thửa 283 và 284, theo kết quả đo đạc thể hiện phần đất đang tranh chấp gồm phần A là bờ đi có diện tích 205,5m² và phần B là mương thoát nước có diện tích 176,2m² đều nằm trong thửa 284 của ông Lâm Mộng N. Khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, ông Lâm Mộng N xác định phần bờ đi (phần A) là của gia đình ông sử dụng từ trước đến nay, bà Dương Thị C cũng thừa nhận không có sử dụng lối đi này mà bà C sử dụng lối đi trên đất thửa 283 của gia đình bà. Án sơ thẩm công nhận phần đất này của ông Lâm Mộng N là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Đối với phần B là đường mương thoát nước có diện tích là 176,2m² thì gia đình bà Dương Thị C quản lý, sử dụng từ trước đến nay, ông Lâm Mộng N cũng thừa nhận từ trước đến nay do bà Dương Thị C sử dụng để làm đường mương thoát nước (BL62, 63). Hơn nữa, tại Công văn số 3175/UBND-NC ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thị xã D xác định ranh giới giữa các thửa 345, 346, 283 và thửa 284 là chưa đảm bảo về vị trí, kích thước và diện tích nên chỉ xác định ranh giới đất của hộ ông Lâm Mộng N với đất của bà Dương Thị C là theo hiện trạng sử dụng đất. Án sơ thẩm xác định hiện trạng sử dụng đất phần B là mương nước diện tích 176,2m² cho hộ bà Dương Thị C sử dụng là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Mộng N, đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Mộng N. Giữ nguyên án sơ thẩm.
- [3] Về án phí và chi phí tố tụng: Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Mộng N là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí đúng theo quy định của pháp luật nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Về chi phí tố tụng ông Lâm Mộng N phải chịu chi phí thu thập thông tin tư liệu địa chính là 266.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 26 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Mộng N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Lâm Mộng N với bị đơn bà Dương Thị C.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N. Bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 phải giao lại cho hộ ông Lâm Mộng N phần đất có diện tích 347,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (ký hiệu A, C và D) có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 212/CNTXDH ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Giao cho bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T2 được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 176,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (ký hiệu B) có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 212/CNTXDH ngày 31/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N về việc yêu cầu bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 tháo dỡ công trình để trả lại diện tích đất 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Giao cho bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (ký hiệu A, B và C) có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 213/CNTXDH ngày 31/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Như H và ông Lê Văn H1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và thực hiện nghĩa vụ về tài chính để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng với diện tích và tứ cận theo quyết định của bản án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lâm Mộng N. Về chi phí tố tụng ông Lâm Mộng N phải chịu chi phí thu thập thông tin tư liệu địa chính là 266.000 đồng, ông Lâm Mộng N đã nộp đủ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 148/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 148/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/c đất đai
