Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 148/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Lợi và bà Nguyễn Thị Tươi

Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng T- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Văn T1 sinh năm 1989 tại tỉnh Thái Bình

Nơi thường trú: thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: số nhà G, ngách A, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 04/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đức T2 và bà Nguyễn Thị H; có vợ Đặng Thị X và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Tại bản án số 107/2020/HS-ST ngày 11/11/2020 Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và bản án số 05/2021/HS-PT ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đều xử phạt Trương Văn T1 02 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “ Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 09 tháng tù ( chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/9/2022); tiền sự : Không; bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024 đến ngày 19/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị C sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn T1 và Nguyễn Thị C là nhân viên phục vụ tại quán B có địa chỉ: phố D, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và ở cùng phòng trọ tại số nhà G, ngách A, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Tối ngày 08/6/2024 trong lúc phục vụ tại quán B 1987, T1 gặp một người tên C1 (là bạn xã hội) đang ngồi với một nhóm bạn của C1 trong quán. C1 móc trong túi quần đang mặc ra 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp thành hình chữ nhật và bảo với T1 “còn ít ke có chơi thì chơi”. Thế hiểu ý C1 nói còn có ít ma túy “ke” để trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng nếu sử dụng thì cầm lấy để sử dụng. Do bản thân là người sử dụng ma túy nên T1 có cầm lấy tờ tiền gói ma túy này cất vào trong túi quần của T1 đang mặc, mục đích để khi nào có nhu cầu thì lấy sử dụng.

Khoảng 01 giờ, ngày 10/6/2024 sau khi làm việc ở quán B 1987, T1 cùng C đi ăn đêm sau đó về phòng trọ để nghỉ ngơi. Khi về đến phòng trọ Chuyên lên trên phòng trước, T1 ở dưới tầng 1 sau đó C nhắn nhờ T1 mua hộ bình “bóng cười”, T1 đồng ý. Khi mua được bình “bóng cười”, T1 mang lên phòng để ở cuối giường rồi thay quần đi tắm. Lúc này T1 nhớ ra gói ma túy “ke” gói trong tờ tiền 5.000 đồng mà C1 cho trước đó đang để ở túi quần nên đã lấy ra bỏ lên bàn kê cạnh đầu giường. Thấy vậy C hỏi T1 “cái gì đây”, T1 trả lời “khách nó cho hai, ba đường ke có chơi thì chơi”, ý T1 nói với C là khách cho ít ma túy “ke” đựng trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, C có sử dụng thì lấy sử dụng. Sau đó C sử dụng “bóng cười”, trong lúc sử dụng bóng cười C nói với T1 “chơi bóng nay sao nó khô không được phê”, rồi C đi ra bàn kê đầu giường thấy trên bàn có tờ tiền 5.000 đồng được gấp thành hình chữ nhật, bên trong chứa ma tuý “ke” Thế để trên bàn trước đó, bên cạnh có một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng hình cuộn để trên đĩa nhựa màu xanh. Chuyên mở tờ tiền 5.000 đồng ra, dùng móng tay lấy ma túy “ke” cho vào mũi để hít. Trong lúc Chuyên dùng móng tay xúc ma tuý trên tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng sử dụng thì bị rơi ma tuý bám dính vào tờ tiền 20.000 đồng và đĩa nhựa ở trên bàn. Thấy C sử dụng ma túy bằng cách này, T1 liền nói “bẩn vậy sao không lấy ống mà hút”, C nói “nghịch tý vậy thôi, em có mấy khi chơi ke” rồi để tờ tiền chứa số ma túy còn lại xuống bàn kê cạnh đầu giường. T1 nói “đúng thế mày nghiện vừa thôi chơi bóng là được rồi”, sau đó T1 và C nằm ngủ. Đến Khoảng 15 giờ ngày 10/6/2024 tổ công tác Công an phường Đ, thành phố N kiểm tra hộ khẩu, nhân khẩu tại số nhà G, ngách A, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, thành phố N, tiến hành kiểm tra tại phòng ngủ ngoài cùng tầng 2 có Trương Văn T1 và Nguyễn Thị C, thu giữ trong phòng: 01

tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp hình chữ nhật bên trong có chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng bám dính chất bột màu trắng, 01 đĩa nhựa màu xanh có bám dính chất bột màu trắng, 01 điện thoại Iphone 8 Plus, 01 điện thoại Redmi, 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Samsung Galaxy A50; T1 khai nhận chất bột màu trắng trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và bám dính ở tờ tiền 20.000 đồng, đĩa nhựa màu xanh là ma tuý “ke”.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng bên trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ của Trương Văn T1 có khối lượng là 0,100 gam ký hiệu M1, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng bám dính chất bột màu trắng ký hiệu A2, 01 đĩa nhựa màu xanh bám dính chất bột màu trắng ký hiệu A3. M1, A2, A3 gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 532/KL-KTHS-MT ngày 17/6/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0941 gam, là ma túy, loại Ketamine. Chất bột màu trắng bám dính trong các mẫu gửi giám định ký hiệu A2, A3 đều là ma tuý, loại Ketamine; lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng. Ketamine là chất ma tùy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H1 lại đối tượng giám định gồm: mẫu giám định M1 còn lại có khối lượng 0,0680 gam, là ma tuý, loại Ketamine;01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 đĩa nhựa màu xanh.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã xử lý như sau:

  • - Trả lại cho Nguyễn Thị C 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Samsung Galaxy A50,
  • - Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án vật chứng, tài sản sau: 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 đĩa nhựa màu xanh; 01 điện thoại Iphone 8 Plus; 01 điện thoại Redmi; 01 chiếc loa mini nhãn hiệu Sony; mẫu giám định M1 còn lại có khối lượng 0,0680 gam, là ma tuý, loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSNDTPNB ngày 29/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Trương Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Trương Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 255; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự . Đề nghị xử phạt bị cáo Trương

Văn T1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/6/2024.

  • + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng .
  • - Tịch thu tiêu hủy mẫu giám định M1 còn lại có khối lượng 0,0680 gam, là ma tuý, loại Ketamine cùng toàn bộ bao gói niêm phong ban đầu và 01 đĩa nhựa màu xanh
  • - Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại Iphone 8 Plus, 01 điện thoại Redmi và 01 chiếc loa mini nhãn hiệu Sony
  • + Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn T1 đã khai nhận: Khoảng 01 giờ, ngày 10/6/2024, sau khi đi làm ở tại quán B 1987, T1 cùng với Nguyễn Thị C về phòng trọ tại tại địa chỉ số G, ngách A, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, TP N, tỉnh Ninh Bình. Tại đây Trương Văn T1 đã nói với C là khách cho ít ma túy “ke” đựng trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, C có sử dụng thì lấy sử dụng. Sau khi C sử dụng “bóng cười” thì C mở tờ tiền 5.000 đồng ra, dùng móng tay lấy ma túy “ke” cho vào mũi để hít.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C khai báo: ngày 10/6/2024 tại phòng trọ ở số G, ngách A, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, thành phố N Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình chị C lấy ma túy Ketamin của Trương Văn T1 để trên bàn sử dụng bằng hình thức lấy móng tay xúc ma túy, cho lên mũi hít.

Bị cáo T1 không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai tại phiên tòa của bị cáo Trương Văn T1 phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong cân xác định trọng lượng vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/6/2024 tại số

nhà G, ngách A, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Trương Văn T1 đã nói với C là khách cho ít ma túy “ke” đựng trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, C có sử dụng thì lấy sử dụng. Sau khi C sử dụng “bóng cười” thì C mở tờ tiền 5.000 đồng ra, dùng móng tay lấy ma túy “ke” cho vào mũi để hít. Đến khoảng 15 giờ ngày 10/6/2024 tổ công tác Công an phường Đ, thành phố N phát hiện bắt giữ.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc cung cấp chất ma tuý cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước và là nguyên nhân phát sinh của nhiều tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo Trương Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 132/CT-VKSNDTPNB ngày 29/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội khi đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Tái phạm” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và là lao động chính (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Nhân thân: bị cáo có nhân thân không tốt do đã bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “ Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” chưa được xóa án tích.

Sau khi xem xét về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung. Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000

đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo T1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có mục đích thu lời bất chính, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[3] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng và tài sản thu giữ như sau:

  • - Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng liên quan đến hành vi phạm tội, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo không có yêu cầu nhận lại .
  • - Tịch thu tiêu hủy 0,0680 gam ma tuý, loại Ketamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; phong bì ban đầu và vỏ bảo gói niêm phong là vật không có giá trị sử dụng; 01 đĩa nhựa màu xanh không liên quan đến hành vi phạm phạm tội nhưng bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không có giá trị sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 8 Plus, 01 điện thoại Redmi và 01 chiếc loa mini nhãn hiệu Sony do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[4] Các vấn đề khác:

  • - Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus 01 điện thoại Samsung Galaxy A50 là tài sản của chị Nguyễn Thị C không liên quan đến hành vi phạm tội của Trương Văn T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho Nguyễn Thị C là có căn cứ.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị C có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hành vi này đã vi phạm vào Khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/ NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm chính đối với Nguyễn Thị C là đúng quy định.
  • - Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai được một người tên C1 nhà ở tỉnh Thái Bình cho ma túy vào ngày 08/06/2024 tại quán B 1987. Bị cáo T1 không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo

  • - Về án phí: căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Đa Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo T3 kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  • - Quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 255; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đa Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/6/2024.

2. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (hai mười nghìn đồng) và toàn bộ bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì ghi số 532/KL-KTHS-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng;
  • - Tịch thu tiêu hủy 0,0680 gam ma tuý, loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì ghi số 532/KL-KTHS-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng; 01 đĩa nhựa màu xanh, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 túi niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định ghi số 532/KL- KTHS-MT; vỏ phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3;
  • - Trả lại cho bị cáo Trương Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, số Imei: 356113099435647 lắp sim số 0823661135; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số Imei 1: 869734062449768, số Imei 2 : 869734062449776 lắp sim số 0869110026 được niêm phong trong phong bì ký hiệu H1 và 01 chiếc loa mini nhãn hiệu Sony .

(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N và có đặc điểm theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày

24/10/2024 giữa Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình).

3. Về án phí: bị cáo Trương Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

4. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/11/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 148/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger