Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HS-ST

Ngày: 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Ngọc Cúc;

2. Ông Huỳnh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Dương Tấn L, sinh ngày 01/7/1990 tại Bạc Liêu. Nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Nơi ở (không đăng ký tạm trú): Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Dương Văn Q, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956. Bị cáo có vợ tên Thạch Ngọc S, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Đầu thú và bị giam giữ từ ngày 22/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

Bị hại: Ông Lưu Hoàng V, sinh năm 1975. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1969. Vắng mặt.
  2. Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1979. Vắng mặt.
  3. Cùng địa chỉ: Ấp Ông H2, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

  4. Bà Thạch Ngọc S, sinh năm 1994. Có mặt.
  5. Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  6. Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1983. Vắng mặt.
  7. Địa chỉ: Tổ A, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  8. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979. Vắng mặt.
  9. Địa chỉ: Tổ 39a, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Tấn L và ông Lưu Hoàng V, sinh năm 1975, ngụ tại ấp B, xã T, huyện V cùng làm chung tại Công ty gỗ Dũng K nên quen biết nhau. Sáng ngày 22/7/2024, L đến uống cà phê tại quán Ú thuộc ấp A, xã T thì gặp ông V. L biết ông V có xe mô tô Honda Wave RXS biển số 86B3 - 336.13 để tại Tiệm tạp hóa gần đó, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe cầm cố lấy tiền tiêu xài. Lực nói dối ông V cho L mượn xe mô tô đi vào Công ty G để làm thủ tục xin nghỉ việc. Ông V tin tưởng rồi đến tiệm T3 và chứng nhận đăng ký (để trong cốp xe) cho L. Sau khi nhận được xe, L điều khiển đến Tiệm cầm đồ Toàn H3, địa chỉ ấp Ô H2, xã T, huyện V để cầm xe. L sử dụng căn cước công dân (bản phô tô) và giấy phép lái xe của L, đồng thời mở cốp lấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 86B3 - 336.13 tên Trần Quốc T1 vào gặp chị Vũ Thị H1 đang quản lý tại Tiệm cầm đồ liên hệ cầm xe. L cung cấp giấy tờ tùy thân và nói dối chị H1 xe của L mua lại chưa sang tên. Chị H1 không biết xe do L phạm tội mà có nên đồng ý cầm cố với số tiền 4.300.000 đồng. L sử dụng điện thoại Samsung S8 nạp toàn bộ số tiền 4.300.000 đồng vào app đánh bài trực tuyến, tham gia chơi game và bị thua hết số tiền đã cầm xe.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, ông V không thấy L trả xe nên đến Công ty gỗ Dũng K tìm gặp L đòi lại xe mô tô biển số 86B3 - 336.13. Lực nói dối với ông V là xe bị bể vỏ đang gửi sửa tại ngã ba Đ, xã T. Ông V yêu cầu L lên xe buýt cùng đi lấy xe, khi đến khu vực ngã ba Đ, L thừa nhận đã cầm cố xe mô tô của ông V tại Tiệm cầm đồ Toàn H3. Ông Lưu Hoàng V đến Công an xã T trình báo sự việc, Dương Tấn L đến đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Công an xã T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

- Vật chứng trong vụ án, gồm:

Xe mô tô Honda Wave RXS màu đỏ đen, biển số 86B3 - 336.13; Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B3 - 336.13 tên Trần Quốc T1.

01 bản phô tô Căn cước công dân tên Dương Tấn L; 01 Giấy phép lái xe tên Dương Tấn L; 01 Giấy chứng nhận cầm đồ số 000849.

01 điện thoại di động Sam sung S8 màu xanh dương.

- Kết luận định giá tài sản số 265/KL-ĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận giá trị xe mô tô Honda Wave RXS màu đỏ đen biển số 86B3 - 336.13 là 8.000.000 đồng.

- Kết quả xác minh xác định xe mô tô Honda Wave RXS biển số 86B3 - 336.13 do ông Trần Quốc T1, sinh năm 1983, ngụ tổ A, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận đứng tên Chứng nhận đăng ký. Năm 2018, ông T1 bán cho ông Nguyễn Văn T2, ngụ tại tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B. Năm 2020, ông T2 bán lại xe cho ông Lưu Hoàng V và không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả lại xe mô tô biển số 86B3 - 336.13 và Chứng nhận đăng ký xe cho ông V.

- Trách nhiệm dân sự:

Ông V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bà Thạch Ngọc S là vợ của bị cáo Dương Tấn L đã tự nguyện hoàn trả số tiền nhận cầm xe 4.300.000 đồng cho ông Trần Ngọc T là chủ Tiệm cầm đồ Toàn H3.

Tại Cáo trạng số 151/CT-VKSVC, ngày 25 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Dương Tấn L về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Tấn L tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Về án phí: bị cáo phải chịu.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/7/2024, tại ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Dương Tấn L đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô Honda Wave RXS màu đỏ đen, biển số 86B3 - 336.13 trị giá 8.000.000 đồng của ông Lưu Hoàng V, rồi đem cầm cố lấy 4.300.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ra đầu thú; tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình có công với cách mạng (gia đình cách mạng gương mẫu); hoản cảnh khó khăn, thuộc thành phần lao động nghèo, là lao động chính (mẹ bệnh, con nhỏ, vợ đang mang thai) là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mẹ bị cáo đang điều trị tại bệnh viện, vợ bị cáo nuôi con nhỏ lại đang mang thai. Căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Tính đến ngày xét xử, bị cáo đã bị giam giữ thời hạn là 03 tháng 25 ngày, cũng đã đủ thời giam giáo dục cải tạo đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét trả tự do cho bị cáo trong trường hợp thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam theo quy định tại khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, thể hiện sự ưu việt của P, đề cao tính nhân văn, nhân đạo đối với người có hành vi phạm tội, nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tích cực cải tạo để trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ông Lưu Hoàng V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bà Thạch Ngọc S là vợ bị cáo L đã tự nguyện hoàn trả số tiền nhận cầm xe 4.300.000 đồng cho ông Trần Ngọc T là chủ Tiệm cầm đồ Toàn H3, bà S không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Xe mô tô Honda Wave RXS biển số 86B3 - 336.13 đứng tên ông Trần Quốc T1. Năm 2018, ông T1 bán cho Nguyễn Văn T2. Năm 2020, T2 bán lại xe cho ông Lưu Hoàng V nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả lại xe mô tô biển số 86B3 - 336.13 và Chứng nhận đăng ký xe cho ông V là phù hợp quy định pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số [...] tên Dương Tấn L và 01 điện thoại di động Sam sung S8 màu xanh dương do không liên quan đến vụ án. (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Cửu).

- Lưu theo hồ sơ vụ án bản phô tô Căn cước công dân tên Dương Tấn L và Giấy chứng nhận cầm đồ số 000849.

[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thị H1 nhận cầm xe mô tô biển số 86B3 - 336.13, nhưng không biết xe mô tô do Dương Tấn L phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý hình sự là phù hợp quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp.

[9] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Dương Tấn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  3. Hình phạt:
  4. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Dương Tấn L 03 (ba) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.

  5. Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  6. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Dương Tấn L, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  7. Về xử lý vật chứng:
  8. Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số [...] tên Dương Tấn L và 01 điện thoại di động Sam sung S8 màu xanh dương do không liên quan đến vụ án. (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Cửu).

    - Lưu theo hồ sơ vụ án bản phô tô Căn cước công dân tên Dương Tấn L và Giấy chứng nhận cầm đồ số 000849.

  9. Về án phí:
  10. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Dương Tấn L phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  11. Về quyền kháng cáo:
  12. Căn Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Viết Dược

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Ngọc Cúc Huỳnh Bình

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 148/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger