|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-ST
Ngày: 18 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.
Các hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Kim Cúc
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2024/HSST ngày 26/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:
Lò Văn K (tên gọi khác: không), sinh ngày 10 tháng 7 năm 1997 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT: bản Pi Tạy, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; Đảng phái, đoàn thể: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T (đã chết) và bà Vì Thị H, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: không.
Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án:
- Tại Bản án số 55/2016/HSST ngày 13/4/2016 của Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
- Tại Bản án số 45/2018/HSST ngày 12/6/2018 của Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Tại Bản án phúc thẩm số 19/2018/HSPT ngày 20/8/2018 Toà án nhân dân tỉnh Sơn La đã quyết định giảm hình phạt đã tuyên cho bị cáo còn 07 năm tù, bị cáo được được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 01 năm 09 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 00 phút ngày 10/6/2024, tổ Công tác Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực gần ngõ dân sinh trên đoạn đường L thuộc tổ A, phường C, thành phố S đã phát hiện Lò Văn K có biểu hiện nghi vấn về ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Lò Văn K. Quá trình kiểm tra hành chính, K tự giác giao nộp từ trong long bàn tay phải 01 gói giấy bạc, mở gói giấy bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng (K khai nhận là ma tuý cất giữ để sử dụng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Văn K khai nhận:
Lò Văn K bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2015. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/6/2024, K đi xe khách từ thành phố Hà Nội về thành phố S. Khoảng 22 giờ cùng ngày xe khách tới Bến xe khách S, K xuống xe và chờ xe đêm để về huyện M. Khởi chờ xe đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/6/2024 thì nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên K đi bộ từ bến xe khách Sơn La xuống khu vực tổ A, phường C, thành phố S để tìm mua ma tuý. Khi đang đi bộ trên đường L thuộc khu vực tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La thì K gặp một người đàn ông cao khoảng 1,6m, dáng người gầy, da đen (K không biết tên, tuổi, địa chỉ) có biểu hiện giống người sử dụng ma tuý nên K đã đặt vấn đề mua ma tuý của người đàn ông đó. Qua trao đổi, K mua được của người đàn ông 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma tuý Heroine với giá 200.000đồng. Sau khi bán ma tuý cho K xong, người đàn ông đó bỏ đi còn K đi bộ tìm địa điểm để sử dụng. Khi K đi được 1 đoạn đến gần ngõ dân sinh trên đường L thuộc tổ A, phường C thì bị tổ công tác Công an thành phố S kiểm tra, K đã giao nộp số ma tuý cho tổ công tác như đã nêu trên.
Cơ quan Công an thành phố S thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (theo lời khai của K cục bột màu trắng là heroine, cất giữ để sử dụng).
Ngày 11/6/2024, Công an thành phố S tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả: Cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,15 gam; lấy 0,07 gam cho vào túi nilon màu trắng làm mẫu giám định ký hiệu L. Còn lại 0,08 gam cho vào núi nilon màu trắng làm mẫu lưu kho, ký hiệu K.
Tại Kết luận giám định số 1255 ngày 11/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,15 gam loại Heroine”.
Tại bản Cáo trạng số 370/CT-VKSTP ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 05 năm 02 tháng đến 05 năm 06 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên: tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì công văn Công an thành phố S còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lò Văn K Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 14/12/2022” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu K = 0,08 gam, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 084890 có ghi “Cơ quan CSĐT-CTP. Sơn La hồi 13 giờ 45 phút ngày 10/6/2024 tại CATP S”.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Vào ngày 10/6/2024, Lò Văn K đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,15 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 01 giờ 10 phút ngày 10/6/2024 tại tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lò Văn K.
- Kết luận giám định số 1255 ngày 11/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,15 gam loại Heroine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: Lò Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Lò Văn K với số lượng tàng trữ ma túy 0,15gam loại Heroine, bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích nên đã vi phạm điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Bị cáo Lò Văn K là người nghiện ma túy, đã có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy, về nhân thân đã từng bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã từng bị kết án các tội phạm mua bán trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản nhưng không ăn năn hối cải, vẫn tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội tàng trữ chất ma túy, vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Đối với nguồn gốc ma túy 0,15 gam loại Heroine, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của người không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu K = 0,08 gam, xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn K 05 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/6/2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì công văn Công an thành phố S còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lò Văn K Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 10/6/2024” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu K = 0,08 gam, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 084890 có ghi “Cơ quan CSĐT-CTP. Sơn La hồi 13 giờ 45 phút ngày 10/6/2024 tại CATP S”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Lò Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Lò Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/9/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Quỳnh Trang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Kim Cúc Nguyễn Thị Ngọc Lan |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Quỳnh Trang |
Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 148/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 10/6/2024, Lò Văn Kh đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,15 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng
