|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-PT Ngày: 20/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhiên
Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T- Kiểm sát viên.
Ngày 20/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 144/TLPT-HS ngày 03/6/2024 đối với bị cáo Đỗ Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị H (tên gọi khác: Không) sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Duy L và bà Mai Thị N; có chồng là Nguyễn Như B (đã chết) và có 03 con: Con lớn sinh năm 1989 Con nhỏ sinh năm 1990 tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 10/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị H: Luật sư Ngụy Thị H1 - Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Học viện tư pháp - Bộ Tư pháp; Địa chỉ: Số I phố T, phường M, quận C, TP Hà Nội. (có mặt)
* Bị hại: Công ty TNHH T2; địa chỉ: Đường A, Khu A, Khu công nghiệp P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Diệu H2, chức vụ: Trưởng phòng xuất nhập khẩu Công ty (Giấy ủy quyền ngày 04/8/2023). (Vắng mặt)
* Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH C; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Diệu H2, chức vụ: Trưởng phòng xuất nhập khẩu Công ty TNHH T2 (Giấy ủy quyền ngày 03/4/2024) (Vắng mặt)
* Bị đơn dân sự:
- Công ty TNHH một thành viên B1 do ông Trần Văn K- Giám đốc Công ty Đ; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
- Ông Hoàng Tú K1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
* Người tham gia tố tụng khác gồm những người liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 phút ngày 01/8/2023, tại nơi ở của Đỗ Thị H ở thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Công an huyện L bắt quả tang Hoàng Văn S thực hiện hành vi trộm cắp cám (thức ăn chăn nuôi) trên xe ô tô biển kiểm soát 98C-189.39 bán cho Đỗ Thị H. Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-189.39 trong bồn xe có cám; 17 bao tải dứa đựng cám có tổng khối lượng 698 kg (được đánh số thứ tự từ 01 đến 17, trong đó: 05 bao cám loại B04TB do Đỗ Thị H mua của Hoàng Văn S; 12 bao cám gồm 04 bao cám loại B07G, 04 bao cám loại B04G, 01 bao cám loại B01G, 03 bao cám loại B02G do Đỗ Thị H mua của Vi Văn T1); 01 chiếc cân nhãn hiệu Nhơn Hòa; 01 bàn nhựa màu xanh; 01 kéo bằng kim loại; 01 bút mực nước màu đen; 05 tờ lịch, mặt sau có ghi nhiều chữ và số; 20 tờ lịch, mặt sau không có chữ, số; 01 cuộn dây dứa màu đỏ; 20 bao tải dứa màu trắng chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo A55 màu đen của Đỗ Thị H. Thu giữ của Hoàng Văn S: Số tiền 2.188.000 đồng, 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe đều mang tên Hoàng Văn S, 01 điện thoại di động Iphone 13 pro max màu xanh có số Imei 1 351596243671767, số I 2351596244428944.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thị H thu giữ: 01 quyển vở ô ly nhãn hiệu Hải Tiến, trên bìa có ghi “sổ nghi lợ”; 01 quyển vở ô ly nhãn hiệu Hải Tiến, trên bìa có ghi “0846013893”; 01 quyển vở nhãn hiệu Hải Tiến, bên ngoài bìa có ghi “Sổ lợ”; 01 quyển vở không có bìa nhãn hiệu Hải Tiến; 03 bút bi vỏ màu xanh trắng; 01 tờ lịch đề ngày 19/6/2023, mặt sau có ghi các ký tự số.
Ngày 02/8/2023, Vi Văn T1 đến Công an huyện L đầu thú và giao nộp: 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.89, số khung 22D6FCA00038, số máy 3L3CS3F00308 trong bồn xe có đựng cám; 01 điện thoại Iphone 12 pro max màu xanh, số Imei 356716110486603.
Ngày 29/9/2023, Đỗ Thị H giao nộp: 01 ống dẫn cám bằng bạt có một mặt màu cam, một mặt màu xanh, chiều dài 275 cm, chiều rộng 49 cm.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định 06 tờ lịch và 01 quyển vở thu giữ tại nhà Đỗ Thị H. Tại Bản kết luận giám định số 2391/KL-KTHS ngày 08/12/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ viết có nội dung “89” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1); “89-140-229” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2); “80-127-207” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3); “84-126-200-94-91-87-42-3/4” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4); “93-139-232” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5); “82-126-208”, “87-125-212” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A6); chữ viết có nội dung "632-405-1037-7-7259” tại mặt trước, “361-1405-7-9835” và “208-785" tại mặt sau trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A7); “217-1044-7-7308”, “314-1597” tại mặt sau trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A9) so với chữ viết của Hoàng Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M4, M5, M6) là do cùng một người viết ra.
- Chữ viết có nội dung “80-78-79” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2); “76-81-81-82” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3); “84-79-75” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4); “79-85-81-79” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5); “88-82-82-76” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A6) so với chữ viết của Vi Văn T1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7 đến M10) là do cùng một người viết ra.
- Chữ viết có nội dung “0912450668- Đông thêm” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2); chữ viết trên các tài liệu cần giám định “ký hiệu từ A7 đến A11, trừ nội dung đã kết luận ở trên) so với chữ viết của Đỗ Thị H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người viết ra.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 (gọi tắt Công ty T2) hợp đồng bán cám (thức ăn chăn nuôi) cho Công ty TNHH C (gọi tắt Công ty C). Để thực hiện hợp đồng, Công ty T2 ký hợp đồng với Công ty TNHH B1 (gọi tắt Công ty B1) và anh Hoàng Tú K1 để vận chuyển cám từ nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, địa chỉ tại khu công nghiệp P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến khu chăn nuôi của Công ty C, địa chỉ tại xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Công ty B1 sử dụng xe ô tô bồn chuyên dụng biển kiểm soát 98C-209.89 và thuê Vi Văn T1 lái xe; anh Hoàng Tú K1 sử dụng xe ô tô bồn chuyên dụng biển kiểm soát 98C-189.39 và thuê Hoàng Văn S lái xe. Quá trình chở cám, T1 và S thường dừng đỗ xe tại nơi ở của Đỗ Thị H để rửa xe và lấy nước mui xe. Do biết mỗi chuyến vận chuyển Công ty T2 cho phép sai số giữa hai đầu cân là khoảng 20 kg nên T1 và S nảy sinh ý định trộm cắp cám để bán cho H. Giữa T1, S và H thống nhất khi xe của T1 hoặc S về gần đến nhà H thì T1, S điện thoại báo cho H biết để ra mở cửa và chuẩn bị bao đựng cám. Giá
cám T1, S thỏa thuận bán cho H từ 7.000 đồng đến 8.000 đồng/kg. Sau đó H dùng cám để chăn nuôi và bán cho một số hộ dân ở xung quanh.
Về cách thức trộm cắp cám T1 và S đều khai: Trên xe ô tô có lắp đặt 01 bình bằng kim loại (ở ca bin hoặc sườn xe) để làm mát mui xe, S để thêm 02 can nhựa lên ca bin xe ô tô. Khi lái xe đến Công ty T2 để chuyên chở cám thì bình kim loại và can nhựa không đựng gì. Quá trình bơm cám vào từng khoang của bồn xe ô tô thì T1, S lựa chọn thời điểm không có người theo dõi sẽ mở cần đóng mở khoang đã đầy cám và bật chế độ bơm cám để trục xoắn hút cám lên ống xả cám, khoảng 01 phút đến 02 phút sau có tiếng máy kêu “è” thì ống xả cám đã đầy cám nên đóng cần mở khoang lại. Sau khi bơm đầy cám vào các khoang còn lại T1, S lái xe đi ra điểm cân xe và kẹp chì ở cần đóng mở khoang và các nắp khoang theo quy định. Sau đó T1, S lái xe chuyên chở cám từ Hưng Yên về S. Khi đến nhà H thì T1, S dừng xe rồi trèo lên đỉnh thùng xe mở nắp ống xả cám và buộc ống dẫn cám vào đầu ống xả cám. T1, S xuống đứng ở đuôi xe rồi khởi động, kéo cần mở để xả cám ra ngoài cho vào các bao tải dứa. Sau khi lấy cám xong T1, S trèo lên thùng xe đóng nắp ống xả cám lại. T1, S bơm nước đầy vào thùng kim loại, can nhựa mang theo từ trước để bù lại khối lượng cám đã trộm cắp rồi tiếp tục vận chuyển cám đến Công ty C. Sau khi Công ty C kiểm tra kẹp chì và tiến hành cân xe thì T1, S lái xe vào trại chăn nuôi xả cám ra; trong lúc xả cám lợi dụng không có người theo dõi T1, S xả hết nước đựng trong thùng kim loại và can nhựa ra ngoài. Với hình thức, thủ đoạn trên trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến ngày 01/8/2023, T1 và S đã nhiều lần trộm cắp cám để bán cho H. Theo T1 và S khai thời gian đầu thì T1, S trộm cắp mỗi lần khoảng 20 kg cám (vì Công ty cho phép được sai số như vậy), từ khoảng cuối tháng 4 năm 2023 đến ngày bị phát hiện T1, S đã trộm cắp cám được như sau:
Hoàng Văn S trộm cắp tổng số 62 ngày, cụ thể: Các ngày 25, 26, 28, 29/4/2023; 03, 04, 06, 08, 09, 10, 12, 13, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 29, 30, 31/5/2023; 02, 06, 07, 09, 12, 13, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 26, 27, 28, 29, 30/6/2023; 01, 03, 04, 05, 06, 10, 11, 17, 18, 19, 20, 22, 24, 25, 26, 27, 28, 29/7/2023. Tổng khối lượng cám trong 62 ngày S lấy được là 13.801 kg cám. Ngày 01/8/2023 S lấy được 218 kg cám bán cho H thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, trong 63 ngày S chiếm đoạt được tổng khối lượng cám là 14.019 kg.
Vi Văn T1 trộm cắp tổng số 49 ngày, cụ thể: Các ngày 28, 29/4/2023; 05, 06, 09, 10, 13, 16, 17, 22, 23, 24, 31/5/2023; 02, 05, 06, 08, 09, 13, 14, 16, 19, 21, 22, 24, 27, 28, 29, 30/6/2023; 01, 03, 04, 05, 12, 13, 14, 15, 17, 18, 19, 20, 21, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 31/7/2023. Tổng khối lượng cám trong 49 ngày T1 lấy được là 14.445 kg cám. Ngày 01/8/2023 T1 lấy được 319,5 kg. Như vậy, trong 50 ngày T1 chiếm đoạt được tổng khối lượng cám là 14.764,5 kg.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra ra văn bản yêu cầu định giá tài sản đối với toàn bộ khối lượng cám mà T1 và S chiếm đoạt được bán cho H.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 08/8/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
- 05 bao cám (ký hiệu từ bao số 01 đến bao số 05, khối lượng 218 kg, loại cám B04TB) do S trộm cắp ngày 01/8/2023 trị giá = 2.240.168 đồng;
- 08 bao cám (ký hiệu từ bao số 06 đến bao số 13) tổng khối lượng 319,5 kg cám gồm: 04 bao loại cám B07G, 04 bao loại cám B04G do T1 trộm cắp ngày 01/8/2023 trị giá = 3.905.250 đồng;
- 04 bao cám (ký hiệu từ bao số 14 đến bao số 17) tổng khối lượng 160,5 Kg cám gồm: 01 bao loại B01G, 03 bao loại B02 do T1 trộm cắp ngày 31/7/2023 trị giá = 2.556.412 đồng.
Tổng giá trị tài sản (17 bao cám) là 8.702.000 đồng.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐG ngày 30/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
- Tài sản bị trộm cắp của xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.89 trong 49 ngày là 14.445 kg cám trị giá = 176.965.940 đồng (do Vi Văn T1 trộm cắp);
- Tài sản bị trộm cắp của xe ô tô biển kiểm soát 98C-189.39 trong 62 ngày là 13.801 kg cám trị giá = 161.433.270 đồng (do Hoàng Văn S trộm cắp).
Đối với Đỗ Thị H: Quá trình đổ nước mui xe tại nhà H, Vi Văn T1 và Hoàng Văn S đều trao đổi với H về việc T1 và S lấy trộm cám trên xe ô tô bán cho H và H đồng ý. Từ ngày 25/4/2023 đến ngày 01/8/2023 đã chứng minh được H mua cám của S 63 lần với tổng khối lượng cám là 14.019 kg, trị giá = 163.673.438 đồng. Từ ngày 28/4/2023 đến ngày 01/8/2023 đã chứng minh được H mua cám của T1 50 lần với tổng khối lượng cám là 14.764,5 kg, trị giá = 183.427.602 đồng. Sau đó H dùng cám để chăn nuôi và bán một phần cho người dân xung quanh, cụ thể: H bán cho anh Tơ Văn N1, chị Đoàn Thị L1, chị Tống Thị P, chị Lê Thị L2 và một số người khác nhưng H không nhớ là ai. Do lâu ngày và khi bán H không ghi sổ theo dõi nên không xác định được khối lượng cám mà H đã bán và số tiền thu được là bao nhiêu.
Đối với những người đã mua cám của Đỗ Thị H, quá trình điều tra xác định họ không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 10/8/2023.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định xử phạt đối với bị cáo Vi Văn T1, Hoàng Văn S, giải quyết về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, bị cáo Đỗ Thị H nộp đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản, bị cáo chỉ phạm tội Tiêu thụ tài sản do người pháp phạm tội mà có và xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không rút đơn kháng cáo nhưng thay đổi nội dung kháng cáo. Bị cáo xác định hành vi phạm tội của mình là đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử tuy nhiên, bị cáo do thiếu hiểu biết, không nhận diện được hành vi nên đề nghị xem xét bị cáo không phải là người trực tiếp lấy tài sản của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận việc xử phạt của cấp sơ thẩm là đúng người đúng tội, không oan sai, mức hình phạt đúng tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357, Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thị H. Sửa bản án sơ thẩm và xử phạt bị cáo H mức án 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Bị cáo xác định hành vi do bị cáo thực hiện là trộm cắp tài sản như bản án sơ thẩm nhận định, đánh giá là đúng tuy nhiên bị cáo không phải là vai trò chính, chỉ là người giúp sức. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại nhiều hơn số tiền thiệt hại thực tế trong vụ án, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh xét xử đối với bị cáo, HĐXX thấy: Sau khi án sơ thẩm xử xong bị cáo kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tội danh của bị cáo. Bị cáo cho rằng bị cáo chỉ phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Không phạm tội trộm cắp tài sản như bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm đã xét xử. Do bị cáo nhận thức chưa đầy đủ nên bị cáo cho rằng hành vi bị cáo thực hiện không phạm tội trộm cắp tài sản. Đến nay bị cáo đã hiểu và nhận thức được việc làm của mình nên bị cáo nhất trí và không còn ý kiến gì về tội danh. Việc bị
cáo H thay đổi nội dung kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện là do bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai nên Hội đồng xét xử thấy bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, quy định pháp luật, không oan sai.
[2]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, thực hiện hành vi với lỗi có ý trực tiếp, cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất hành vi thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự mới bảo đảm được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm g khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là đảm bảo.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra bị cáo Đỗ Thị H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp thêm số tiền 60.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại. Có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo H đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp 5.000.000đồng tiền phạt bổ sung và 200.000đồng tiền án phí theo bản án sơ thẩm. Quá trình sống ở địa phương luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, tham gia đầy đủ các hoạt động do địa phương phát động như: Quỹ xóa nhà tạm nhà dột, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ chất độc mầu da cam...được địa phương xác nhận. Tháng 8/2024 bị cáo có nghĩa cử cao đẹp, nhặt được của rơi trả lại người đánh mất do vậy áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, trong vụ án không phải là người trực tiếp trộm cắp tài sản của bị hại, bị cáo thực hiện hành vi với và trò giúp sức, sau khi thực hiện hành vi đã năn năn hối hận về hành vi mình thực hiện và bồi thường nhiều hơn số tiền các bị cáo trộm cắp của bị hại. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luậ hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng dưới mức khởi điểm của khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của người bào chữa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ điểm điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về hình phạt đối với bị cáo H.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 10/8/2023.
(Xác nhận bị cáo đã nộp 5.000.000đồng tiền phạt bổ sung và 200.000đồng án phí sơ thẩm tại biên lai thu số 0003178 ngày 12/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang)
2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 148/2024/HS-PT ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 148/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Hạnh - Trộm cắp tài sản
