Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 148/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Ngô Khắc Thinh
  • 2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V)

Địa chỉ trụ sở: Số A đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Phan S – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh K (Giấy ủy quyền số 480/UQ-VCB-PC ngày 14/10/2021);

Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Việt C – Chức vụ: Trưởng phòng P; Địa chỉ: Số I N, phường L, thành phố N (Giấy ủy quyền số 585/UQ-KH-KHH ngày 16/11/2023) (có đơn xin xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1989

Nơi cư trú cuối cùng: Số D L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/3/2019, theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng của bà Nguyễn Thị Kim O, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (viết tắt là Ngân hàng) đã phát hành thẻ tín dụng, loại thẻ Visa Signature, hạn mức thẻ là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), thời hạn sử dụng thẻ: 36 tháng.

Từ kỳ sao kê ngày 20/6/2021, bà O đã chậm trả nợ thẻ tín dụng nên toàn bộ khoản nợ thẻ đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và mời bà O đến làm việc nhưng bà O vẫn không thực hiện thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim O phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, tính đến ngày 30/9/2024 là 305.078.128 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn một trăm hai mươi tám đồng) Trong đó, gốc quá hạn: 170.914.251 đồng, lãi quá hạn: 62.742.489 đồng, phí vượt hạn mức: 71.421.388 đồng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Kim O phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 305.078.128 đồng (gồm gốc quá hạn: 170.914.251 đồng, lãi quá hạn: 62.742.489 đồng, phí vượt hạn mức: 71.421.388 đồng) và có trách nhiệm thanh toán các khoản lãi, phí phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng các bên đã ký kết.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Việt C có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai về vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N và bà Nguyễn Thị Kim O có xác lập quan hệ hợp đồng tín dụng; tạm tính đến ngày 30/9/2024 bà O còn nợ Ngân hàng số tiền là 305.078.128 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn một trăm hai mươi tám đồng) Trong đó, gốc quá hạn: 170.914.251 đồng, lãi quá hạn: 62.742.489 đồng, phí vượt hạn mức: 71.421.388 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ an được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O; bà O có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O đã được Tòa án thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, thông báo việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tính có hiệu lực của hợp đồng: Theo tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện bà Nguyễn Thị Kim O và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có giao kết Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm Hợp đồng ngày 27/3/2019. Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng được hai bên tự nguyện giao kết, nội dung và hình thức không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực.

[3] Về nội dung: Căn cứ Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm Hợp đồng ngày 27/3/2019 của bà Nguyễn Thị Kim O, thì giữa chủ thẻ là bà Nguyễn Thị Kim O với bên phát hành thẻ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có thỏa thuận về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, loại thẻ Visa Signature, với hạn mức 200.000.000 đồng. Việc thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình sử dụng thẻ, bà O đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng; từ kỳ sao kê ngày 20/6/2021, toàn bộ khoản nợ thẻ đã chuyển sang nợ quá hạn. Nay, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N yêu cầu bà O thanh toán khoản nợ gốc quá hạn với số tiền 170.914.251 đồng (Một trăm bảy mươi triệu chín trăm mười bốn nghìn hai trăm năm mươi mốt đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và cần được chấp nhận.

Về yêu cầu trả nợ lãi và phí vượt hạn mức: Căn cứ theo quy định tại khoản 1.3.4, Điều 1.3, mục I, Phần B Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, việc Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà O sang nợ quá hạn từ kỳ sao kê ngày 20/6/2021 là phù hợp. Như vậy, tính đến ngày 30/9/2024, số tiền lãi quá hạn đối với thẻ tín dụng: 62.742.489 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm tám mươi chín đồng) và phí vượt hạn mức: 71.421.388 đồng (Bảy mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Ngân hàng đề nghị bà O có trách nhiệm thanh toán khoản lãi, phí phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất và biểu phí quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 305.078.128 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn một trăm hai mươi tám đồng) Trong đó, gốc quá hạn: 170.914.251 đồng, lãi quá hạn: 62.742.489 đồng, phí vượt hạn mức: 71.421.388 đồng.

Kể từ ngày 01/10/2024, bà Nguyễn Thị Kim O còn phải chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh của số dư nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm Hợp đồng ngày 27/3/2019 đến khi trả hết nợ vay.

2. Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O phải chịu 15.253.906 đồng (Mười lăm triệu hai trăm năm mươi ba nghìn chín trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí là 5.504.000 đồng (Năm triệu năm trăm lẻ bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002336 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

Bùi Nguyên Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 148/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger