Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/DS-PT

Ngày: 12/4/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh

Bà Trần Thị Thanh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 271/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 46/2023/DSST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 432/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T (chết ngày 28/9/2018).
  2. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1951.
    2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1972.
    3. Bà Lê Thị Cẩm T1, sinh năm 1973.
    4. Bà Lê Thị Thùy L, sinh năm 1951.
    5. Ông Lê Ngọc T2, sinh năm 1971.
    6. Bà Lê Thị Cẩm T3, sinh năm 1975.

    Cùng địa chỉ: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

    Bà Đ, bà D, bà T1, bà L và bà T3 cùng ủy quyền cho ông Lê Ngọc T2 (Theo văn bản ủy quyền ngày 23.5.2023).

  3. Bị đơn:
    1. Ông Lê Phú T4, sinh năm: 1958.
    2. Bà Phan Thị T5, sinh năm 1956.

    Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

    Bà T5 ủy quyền cho ông Lê Phú T4 tham gia tố tụng (Theo văn bản ủy quyền ngày 10.4.2014).

  4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Kim T6, sinh năm: 1980.
    2. Bà Lê Thanh T7, sinh năm: 1981.
    3. Ông Lê Phan T8, sinh năm: 1985.
    4. Bà Lê Kim T9, sinh năm: 1987.
    5. Ông Lê Phan T10, sinh năm: 1992.

    Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ

    Bà T6, bà T7, ông T8, bà T9, ông T10 ủy quyền cho ông Lê Phú T4 tham gia tố tụng (Theo văn bản ủy quyền ngày 10.4.2014).

    1. Ông Lê Tấn L1, sinh năm 1971; địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
    2. Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn H - Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên Môi trường quận T.

    Người làm chứng:

    1. Bà Lê Kim E, sinh năm 1951.
    2. Bà Lê Kim H1, sinh năm 1956.

    Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

    1. Ông Lê Bửu H2, sinh năm 1960; địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
    2. Bà Lê Thị Bé N, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
    3. Ông Lê Quí T11, sinh năm 1966; địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
    4. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1969;
    5. Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1958.

    Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

2

Người kháng cáo: Các nguyên đơn bà Phan Thị Đ, bà Lê Thị D, bà Lê Thị Cẩm T1, bà Lê Thị Thùy L, ông Lê Ngọc T2, bà Lê Thị Cẩm T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phía nguyên đơn trình bày: Hộ ông Lê Ngọc T là chủ sử dụng thửa đất 1614, diện tích 2.733m² tờ bản đồ số 01, loại đất T: 300m², loại đất LNK: 1.433m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000460 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 28/9/1998 giáp ranh là thửa đất 1615, diện tích 2.733m², loại đất T: 300m², loại đất LNK: 1.433m² do hộ bà Phan Thị T5 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00071 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 28/10/2002, tọa lạc thuộc khu vực T, phường T, quận T, Tp .. Các thửa đất 1614, 1615 đều có nguồn gốc đất là của cha ông Lê Văn H3 ( chết năm 1999), mẹ bà Nguyễn Thị N1 (chết năm 2008) để lại cho các đương sự.

Từ trước năm 1998 gia đình ông T được cha mẹ cho phần đất thuộc thửa 1614 sử dụng đến năm 2001 thì gia đình ông T di dời nhà đến khu vực L, phường T, quận T để sinh sống và bỏ trống phần đất có diện tích 300m² không sử dụng nên bị gia đình ông T4 sử dụng đất giáp ranh đã tự ý bao chiếm qua phần đất này thuộc thửa đất 1614 của ông T cho đến nay. Sau đó, ông T có yêu cầu ông T4 giao trả phần đất này nhưng ông T4 không đồng ý nên các bên phát sinh tranh chấp.

Phần đất tranh chấp bị đơn đã sử dụng sai vị trí đất cụ thể: Vị trí, diện tích thửa 1614+1615 thể hiện trong Mảnh trích đo địa chính số 20-2016 là vị trí, diện tích của một thửa 1614, còn thửa 1615 của bị đơn ông T4 là phần đất liền kề (cụ thể là phần đất đang do ông Lê Bửu H2 quản lý sử dụng). Vì vậy, việc trước đây ông T yêu cầu ông T4, bà T5 trả lại diện tích 300m² của thửa 1614 trước đây là chưa chính xác.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn và các thành viên gia đình có trách nhiệm trả lại toàn bộ phần đất đang quản lý cho ông bà vì phần đất bị đơn đang quản lý thuộc thửa 1614 có diện tích 2.733m², do ông T đứng tên chủ sử dụng đất hợp pháp và đã sử dụng liên tục từ trước cho đến nay.

Đối với đơn phản tố của bị đơn yêu cầu được sử dụng 195,1m² ký hiệu 1614D+ 75,3m² ký hiệu 1614A và đồng ý giao trả cho gia đình nguyên đơn phần còn lại có kích thước: ngang 5m, chiều dài 38,7m thuộc thửa 1614 thì các người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng nguyên đơn không đồng ý.

Bị đơn ông Lê Phú T4 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phan Thị T5và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim T6, bà Lê Thanh T7, ông Lê Phan T8, bà Lê Kim T9, ông Lê Phan T10 trình bày:

Ông và bà Phan Thị T5 là vợ chồng, có các người con gồm: bà Lê Kim T6, bà Lê Thanh T7, ông Lê Phan T8, bà Lê Kim T9, ông Lê Phan Thạch . Ông bà là chủ sử dụng đất thửa đất số 1615, diện tích 2.733m², tờ bản đồ số 01, loại đất T: 300m², LNK: 1.433m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00071 do Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 28/10/2002 do hộ bà Phan Thị T5 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại địa chỉ trên.

3

Nguồn gốc đất là của cha ông Lê Văn H3 (chết năm 1999), mẹ bà Nguyễn Thị N1 (chết năm 2008) để lại cho ông. Quá trình sử dụng tiếp giáp với thửa đất 1614 của ông Lê Ngọc T trước đây ông T được cha mẹ cho sử dụng phần đất tranh chấp một khoảng thời gian từ năm 1976 đến năm 1978 thì ông T bỏ đất di dời nhà về khu vực L, phường T, quận T sinh sống và cha mẹ tiếp tục sử dụng đến năm 1985 thì cha mẹ giao lại cho gia đình ông quản lý sử dụng cho đến nay, thời điểm ông sử dụng thì không ai phản đối đến khi các bên phát sinh tranh chấp. Vì vậy, ông không lấn chiếm đất của ông T và cũng không sử dụng sai vị trí đất với ông H2 mà sự thật thì gia đình ông T chỉ sử dụng phần đất có vị trí phía sau qua đo đạc có diện tích 1.092,2m² thuộc thửa đất 1615 ( ký hiệu 1615A) và diện tích 1.172,2m² thuộc thửa đất 1614 và phần diện tích 452,9m² ( kí hiệu 1614C) đã bán cho Lê Tấn L1 nên việc nhà nước cấp giấy cho ông T phần đất tranh chấp là sai so thực tế các bên sử dụng, cụ thể: phần đất ký hiệu 1614A+ 1614B+ 1614D ông được cha mẹ cho quản lý sử dụng thì ông T được cấp giấy trong khi phần đất ông T sử dụng ký hiệu 1615A thì gia đình ông được cấp giấy đất.

Nay qua yêu cầu nguyên đơn thì ông và các thành viên trong gia đình không đồng ý giao trả toàn bộ phần đất mà chỉ đồng ý giao trả cho gia đình nguyên đơn phần đất có kích thước: chiều ngang 5m, chiều dài 38,6m thuộc thửa 1614, lý do vì tình nghĩa anh em ruột cũng như tạo lối đi ra phía sau đất cho gia đình nguyên đơn, phần đất tranh chấp còn lại ông có yêu cầu công nhận cho gia đình ông được quyền sử dụng

Đối với phần đất diện tích 1.092,2m² thuộc thửa đất 1615 do gia đình ông đứng tên chủ sử dụng thì gia đình bị đơn cũng thống nhất giao cho các đồng thừa kế của ông T vì phần đất này cha mẹ đã cho ông T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân quận T có người đại diện hợp pháp ông Đỗ Văn H trong quá trình giải quyết vụ án trình bày như sau:

Việc Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy CNQSD ruộng đất số 5016/ GCN/RĐ ngày 24/6/1990 tại các thửa 1614 và 900 cho ông Lê Ngọc T đến năm 1998 ông T làm đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ mẫu giấy trắng sang mẫu giấy đỏ và được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000460 ngày 28/9/1998 tại các thửa 1614 và 900 là không có khiếu nại hay tranh chấp nên việc cấp giấy đất nêu trên là đúng nội dung, trình tự thủ tục, đối tượng, nguồn gốc theo quy định pháp luật.

Đối với các thửa 1615 và 901 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy CNQSD ruộng đất số 5173/GCNRĐ ngày 28/6/1991 cho hộ bà Phan Thị T5 đến năm 1998 bà T5 làm đơn xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ mẫu giấy trắng sang mẫu giấy đỏ và được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000365 ngày 17/6/1998 tại các thửa 1615 và 901 là không có khiếu nại hay tranh chấp nên việc cấp giấy đất nêu trên là đúng nội dung, trình tự thủ tục, đối tượng, nguồn gốc theo quy định pháp luật.

Theo Bản trích đo địa chính số 20/2016 ngày 18/4/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T thể hiện thửa 1614 (không tính phần diện tích

4

tranh chấp) có diện tích 2.078 m² giảm 655m² so với giấy CNQSD đất số 000460 ngày 28/9/1998 của nguyên đơn được cấp. Nguyên nhân diện tích thửa 1614 của nguyên đơn giảm là do trong quá trình đo đạc trước đây (vào năm 1990), cán bộ đo đạc xác định ranh không chính xác, đồng thời vào thời điểm đó kỹ thuật đo đạc và việc tính diện tích còn thực hiện bằng thủ công so với hiện nay việc tính diện tích bằng phần mềm máy vi tính nên có sự chênh lệch về diện tích giữa thực tế và diện tích được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Ngoài ra, qua xác minh con mương tiếp giáp thửa 1614 là con mương công cộng đã bị sạt lở cũng là nguyên nhân làm giảm diện tích thửa 1614.

Đối với thửa đất số 1615 (không tính phần diện tích tranh chấp) có diện tích 1.646,4m² giảm 1.086,6 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000365 ngày 17/6/1998 của bị đơn được cấp. Nguyên nhân diện tích thửa 1614 của nguyên đơn giảm là do trong quá trình đo đạc trước đây (vào năm 1990), cán bộ đo đạc xác định ranh không chính xác, đồng thời vào thời điểm đó kỹ thuật đo đạc và việc tính diện tích còn thực hiện bằng thủ công so với hiện nay việc tính diện tích bằng phần mềm máy vi tính nên có sự chênh lệch về diện tích giữa thực tế và diện tích được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Ngoài ra, do bận công tác nên ông yêu cầu vắng mặt tại các lần hòa giải đối chất và xét xử tại Tòa án các cấp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lê Tấn L1 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày như sau:

Ngày 15/8/2016, ông Lê Tấn L1 có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có diện tích 452,9m² (kí hiệu 1614C) với ông Lê Ngọc T. Tuy nhiên, đến ngày 23/01/2018 ông L1 rút toàn bộ yêu cầu giải quyết để tự thỏa thuận với ông T.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 46/DSST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Buộc bị đơn ông Lê Phú T4, bà Phan Thị T5 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim T6, bà Lê Thanh T7, ông Lê Phan T8, bà Lê Kim T9, ông Lê Phan T10 đang quản lý sử dụng phải có trách nhiệm giao trả cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn bà Phan Thị Đ, bà Lê Thị D, bà Lê Thị Cẩm T1, bà Lê Thị Thùy L, ông Lê Ngọc T2, bà Lê Thị Cẩm T3 phần đất có diện tích 182,5m² (kí hiệu 1614B), trong đó, loại đất ODT diện tích 150m² và loại đất CLN diện tích 32,5m² thuộc thửa đất số 1614, tờ bản đồ số 01, do hộ ông Lê Ngọc T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000460 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ), cấp ngày 28/9/1998, có kích thước các cạnh như sau:
      • + Chiều ngang mặt trước giáp đường giao thông là 5,0m;
      • + Chiều ngang mặt sau giáp phần còn lại của thửa đất 1614 là 5,0m;

5

  • + Chiều dài cạnh giáp với phần đất do ông Lê Tấn L1 sử dụng (ký hiệu 1614 C) là 38,6m;
  • + Chiều dài cạnh còn lại giáp với phần đất ông T4 được sử dụng là 38,7m.
  1. Công nhận những người kế thừa của nguyên đơn bà Phan Thị Đ, bà Lê Thị D, bà Lê Thị Cẩm T1, bà Lê Thị Thùy L, ông Lê Ngọc T2, bà Lê Thị Cẩm T3 phần đất có diện tích 1092,2m² (kí hiệu 1615A), trong đó, loại đất ODT + CLN thuộc thửa đất số 1615, tờ bản đồ số 01, do hộ bà Phan Thị T5 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00071 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ), cấp ngày 28.10.2002. Hiện gia đình nguyên đơn dang quản lý.
  1. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
  2. Công nhận cho ông Lê Phú T4, bà Phan Thị T5 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 195,1m² (kí hiệu 1614B), trong đó, loại đất ODT diện tích 150m², loại đất CLN diện tích 45,1m² và phần đất có diện tích 75,3m² (kí hiệu 1614A), loại đất CLN cùng thuộc thửa đất 1614, tờ bản đồ số 01 do hộ ông Lê Ngọc T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000460 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ), cấp ngày 28/9/1998, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T (cũ), Tp ., hiện phần đất này do ông T4, bà T5 đang quản lý sử dụng, cụ thể như sau:

    • * Phần đất diện tích 195,1m² ( kí hiệu 1614B) có kích thước:
      • + Chiều ngang mặt trước giáp đường giao thông là 5,2m;
      • + Chiều ngang mặt sau giáp phần còn lại của thửa đất 1614 là 5,5m;
      • + Chiều dài cạnh giáp với phần đất do nguyên đơn sử dụng là 38,7m;
      • + Chiều dài cạnh còn lại giáp với phần đất ( kí hiệu 1614A) là 38,9m.
    • * Phần đất diện tích 75,3m² ( kí hiệu 1614A) có kích thước:
      • + Chiều ngang mặt trước giáp đường giao thông là 1,3m;
      • + Chiều ngang mặt sau giáp phần còn lại của thửa đất 1614 là 2,9m;
      • + Chiều dài cạnh giáp với phần đất kí hiệu 1614 B là 38,9m;
      • + Chiều dài cạnh còn lại giáp với thửa đất 1615 là 39,7m.

    Các phần đất đều tọa lạc ấp T, xã T, huyện T (cũ), Tp . (nay thuộc khu vực T, phường T, quận T, Tp .).

    Vị trí, kích thước phần đất nêu trên được xác định theo Mãnh trích đo địa chính số 20 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận T lập ngày 18/4/2016 (Đính kèm).

  1. Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000460 do Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 28/9/1998 cho hộ ông Lê Ngọc T đứng tên và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00071 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ), cấp ngày 28.10.2002 để điều chỉnh và cấp lại các đương sự đối với phần đất được quyền sử dụng theo quy định pháp luật.

6

  • - Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để hoàn chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất trên theo quy định.
  1. Tách việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tấn L1 và ông Lê Ngọc T giải quyết thành vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử phía nguyên đơn kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Ngọc Triều đại dủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên được pháp luật bảo vệ. Ông T4 cất trên phần đất của ông T nên buộc ông T phải trả lại. Bản án sơ thẩm tuyên không rỏ ràng đề nghị Tòa cấp phúc thẩm hủy bản án trên.

Phía ông Lê Phú T4 trình bày: Đất cụ H3 cho ông sử dụng đúng vị trí. Ông không lấn chiếm đất của ông T. Ông đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ theo Tờ duy huấn ngôn ngày 9/7/1989 của cụ Lê Văn H3 có để lại phần đất tranh chấp cho các người con gồm ông T, T4, ông H2 và ông T11 nên khi có chính sách của Nhà nước về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Phần đất của ông T được cấp tại thửa 1614 diện tích 2733m² và phần đất của ông T4 được cấp là Thửa 1615 diện tích 2733m². Nay ông T khởi kiện cho rằng ông T4 đã sử dụng hết thủa đất của ông nên yêu cầu trả lại. Tuy nhiên, qua các lần xét xử Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định được vị trí đất của nguyên đơn tại thửa 1614 và thủa 1615 của bị đơn chưa phù hợp theo hình thể thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa đủ căn cứ để xác định thực tế phần đất tranh chấp là do ông T4 sử dụng hay không? Thực tế tại phần đất tranh chấp thì hiện nay ông H2 sử dụng ½ và ông T4 sử dụng ½ không thể hiện phần của ông T, như vậy nếu không đưa ông H2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vi phạm Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và cũng không làm rõ diện tích tranh chấp bị mất là do đâu, có phải do ông H2 sử dụng hay không? Trong quá trình giải quyết vụ án ông H2 không cho đo đạc phần đất của ông và cũng không cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể xác định thực tế ông H2 sử dụng phần đất có đúng với giấy được cấp hay không? Theo Công văn số 343/UBND ngày 04/8/2022 thể hiện phần đất tranh chấp tại Thửa số 1614, kể từ khi ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1998 thì phần đất này là đất trống, không ai sử dụng phần đất này. Hiện nay ông Lê Phú T4 sử dụng phần đất này để trồng mai khoản 05 năm nay và không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà đất từ khi sử dụng đất cho đến nay. Như vậy, cấp sơ thẩm chưa làm rõ

7

tình tiết này và hơn nữa theo Bản án phúc thẩm số 174 ngày 17/10/2019 cũng yêu cầu làm rõ các biên lai thu thuế đất và các giấy tờ thể hiện trước đây ông T là người nộp thuế nhà đất liên tục đến thời điểm tranh chấp để xác định ai là chủ đất sử dụng đất thửa 1614, nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ.

Ngoài ra, căn cứ theo Bản trích đo địa chính ngày 18/4/2018 không phù hợp với thực tế, cấp sơ thẩm xét xử lần 02 không đo đạc lại phần đất tranh chấp mà Hội đồng xét xử dựa trên bản trích đo này để tự phân chia đất cho nguyên đơn và bị đơn là không phù hợp và không đúng chức năng của Hội đồng xét xử và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nghiêm trọng.

Từ những căn cứ như trên, xét thấy bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023 ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có nhiều vi phạm về thủ tục tố tụng và về nội dung nên tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được.

Đề xuất áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng dân sự:
    1. Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
    2. Về xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án sơ thẩm xác định ông Lê Bửu H2 là người làm chứng là chưa chính xác vì: Phần đất tranh chấp giữa ông Lê Ngọc T với bị đơn ông Lê Phú T4, bà Phan Thị T5 có nguồn gốc từ cụ Lê Thị H4(chết năm 1999) và mẹ là cụ Nguyễn Thị N1 (chết năm 2008) để lại chia cho 03 đương sự trong vụ án trong đó có ông Lê Bửu H2. Phía nguyên đơn cho rằng phần đất cụ H4 để lại chia đều cho ba người là ông T, ông T4 và ông H2 nên khi tranh chấp cần phải xác định ông H2 là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn cho rằng phần đất mặt tiền chia đều cho ba người nhưng hiện nay thì chỉ có ông H2 và ông T4 (bà T5 đứng tên quyền sử dụng đất) sử dụng phần mặt tiền nên phần của ông T không có. Mặc dù, ông T không khởi kiện ông H2 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần đưa ông H2 hoặc hộ ông H2 (nếu đất cấp cho hộ ông H2) vào tham gia với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Cần đo đạc diện tích đất của ông H2 so với diện tích thực tế được cấp từ đó mới xác định được vị trí đất của từng người sử dụng.

Do Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai tư cách tố tụng dẫn đến việc không đo đạc diện tích đất thực tế phần đất của ông Lê Bửu H2 dẫn đến việc không xác định được vị trí đất của ông Lê Ngọc T, ông Lê Phú T4 sử dụng. Phần mặt tiền theo ông

8

T2 trình bày là chia làm ba phần nhưng hiện nay chỉ có ông H2 và ông T4 sử dụng từ đó ông T chỉ kiện ông T4 vì cho rằng ông T4 chiếm phần đất của ông. Theo Công văn số 343/UBND ngày 04/8/2022 thể hiện phần đất tranh chấp tại Thửa số 1614, kể từ khi ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1998 thì phần đất này là đất trống, không ai sử dụng phần đất này. Hiện nay, ông T4 sử dụng phần đất này để trồng cây khoản 05 năm nay và không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà đất từ khi sử dụng đất cho đến nay. Như vậy, cấp sơ thẩm chưa làm rõ tình tiết này và hơn nữa theo Bản án phúc thẩm số 174 ngày 17/10/2019 cũng yêu cầu làm rõ các biên lai thu thuế đất và các giấy tờ thể hiện trước đây ông T là người nộp thuế nhà đất liên tục đến thời điểm tranh chấp để xác định ai là chủ đất sử dụng đất thửa 1614, nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ.

Do xác định sai tư cách tố tụng và không đo đạc thực tế đất của ông Lê Bửu H2, cấp sơ thẩm không thực hiện đo đạc lại tổng thể diện tích đất của cụ H4 để lại nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể điều tra, thu thập, đo đạc phần đất này. Do đó, phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra và thu thập thêm như đã phân tích trên.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chưa xem xét và giải quyết.
  2. Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc: chưa xem xét và giải quyết.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Các nguyên đơn được nhận lại (ông Lê Ngọc T2 nộp thay) số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004001 ngày 28/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
  4. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.

Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chưa xem xét và giải quyết.

Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc, xác minh cấp sơ thẩm và phúc thẩm: Chưa xem xét và giải quyết.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Các nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004001 ngày 28/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (Do ông Lê Ngọc T2 nộp thay).

9

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/DS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 148/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chap QSDĐ vơi BĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger