Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2023/HS-ST

Ngày: 26-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngôi Sao

Bà Tăng Thị Nhật Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 147/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức A, sinh năm: 1985 tại Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân V (đã chết) và con bà Đặng Thị L (đã chết); gia đình: Có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; vợ Đỗ Thị P, sinh năm 1985 (đã ly hôn), con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/7/2023 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Trần Xuân V1, sinh năm: 1991; nơi cư trú: Số B N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Hồ Thanh C, sinh năm: 1979; nơi cư trú: Số C Â, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  2. Chị Phạm Thị Thanh H, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số A T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  3. Chị Trần Thị D, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Số H T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  4. Chị Nguyễn Diễm Ánh D1, sinh năm: 2004; nơi cư trú: Số H T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 17/3/2023, Lê Đức A điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của chị Phạm Thị Thanh H ở hẻm H, Quốc lộ B, thôn T, xã L, thành phố B để tìm chị Nguyễn Thị Diễm M. Tại phòng trọ của chị H có chị H, chị M, anh Trần Xuân V1 và anh Hồ Thanh C. Khi thấy V1 thì Đức A nhớ đến chuyện V1 nhắn tin thô tục, thách thức nên Đức A dựng xe bên ngoài cửa phòng rồi tháo mũ bảo hiểm cầm trên tay phải ném xuống đất, đi đến vị trí của V1. Lúc này, V1 đang ngồi trên sàn nhà thì Đức A lao đến dùng tay đấm 01 cái trúng vào vùng đầu của V1, 01 cái trượt không trúng. Sau đó, V1 có cầm 01 con dao gọt trái cây, dài khoảng 20cm có sẵn trong phòng để tự vệ thì được anh C cùng mọi người trong phòng can ngăn nên Đức A bỏ chạy ra ngoài. Khi bỏ chạy ra phía sau dãy nhà trọ thì Đức A thấy 01 cây sắt vuông, cạnh 01cm, chiều dài 98cm để móc treo đồ để ở phía sau dãy nhà trọ nên đã cầm lấy cây sắt này quay lại đánh V1. V1 thấy vậy nên bỏ chạy ra ngoài phòng trọ hướng đi ra ngoài đường, trên đường bỏ chạy V1 cầm lấy 01 cây sắt để treo đồ, dài khoảng hơn 01m để tự vệ. Chạy được khoảng 10 mét thì V1 bị té ngã nằm nghiêng bên trái xuống đường. Lúc này, Đức A đuổi kịp V1 đồng thời dùng cây sắt đánh nhiều phát vào người V1, V1 đưa tay lên đỡ nên bị trúng vào tay phải. Bị đánh thì V1 ngồi dậy và bỏ chạy ngược lại vào hướng khu nhà trọ, Vũ leo qua tường rào và chạy thoát. Sau đó, V1 được mọi người đưa đến Bệnh viện I cấp cứu và nhập viện điều trị. Đến tối ngày 17/3/2023, V1 xin chuyển xuống Bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố H để nhập viện điều trị từ ngày 18/3/2023 cho đến ngày 22/3/2023 thì được xuất viện. Hậu quả: V1 bị gãy hở nát chỏm xương bàn III + đốt 1 ngón IV, V tay phải, kiểm tra Carm + nẹp bột Iseline ngón III, IV, V tay phải.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 250/23-KLTTCT-PYLĐ ngày 26/05/2023 kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Xuân V1 tại thời điểm giám định là 18%. Tổn thương do vật tày gây nên.

Vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã tạm giữ 01 gậy sắt, kích thước dài 98cm, cạnh vuông rộng 01cm; 01 cây sắt vuông rỗng, dài 51cm, cạnh 03cm. Đối với 01 cây sắt dài khoảng hơn 01m, có gắn móc sắt một đầu, loại để móc treo quần áo; 01 con dao loại dao để gọt trái cây, dài 20cm; 01 mũ bảo hiểm màu đen thì Cơ quan điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc bị cáo Lê Đức A và bị hại Trần Xuân V1 đã bồi thường số tiền 100.000.000đ. Đức A đã bồi thường được 51.000.000đ, còn 49.000.000đ thì chưa bồi thường.

Cáo trạng số 154/CT-VKSBL ngày 28/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố Lê Đức A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, kết luận giám định và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Quá trình điều tra, bị

cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 100.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 74.000.000đ, còn 26.000.000đ thì bị cáo và bị hại tự thỏa thuận thanh toán với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị hại anh Trần Xuân V1 trình bày: Chỉ một mình cáo gây thương tích cho anh như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Anh và bị cáo thống nhất bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 74.000.000đ, còn 26.000.000đ thì anh và bị cáo tự thỏa thuận thanh toán với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về hình phạt thì anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Đức A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đức A từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy sắt, kích thước dài 98cm, cạnh vuông rộng 01cm và 01 (một) cây sắt vuông rỗng, dài 51cm, cạnh 03cm.

Về dân sự: Các bên không yêu cầu nên không xem xét đến.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với Kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định:

Do có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 13 giờ ngày 17/3/2023 tại phòng trọ của chị Phạm Thị Thanh H ở số H Quốc lộ B, thôn T, xã L, thành phố B, Lê Đức A đã dùng tay đấm 01 cái vào vùng mặt của anh Trần Xuân V1. Sau đó, V1 có cầm 01 con dao gọt trái cây, dài khoảng 20cm có sẵn trong phòng để chống trả lại nên Đức A bỏ chạy ra ngoài. Khi bỏ chạy ra phía sau dãy nhà trọ thì Đức A thấy 01 cây sắt vuông, cạnh 01cm, chiều dài 98cm để móc treo đồ để ở phía sau dãy nhà trọ nên đã cầm lấy cây sắt này quay lại đánh V1. V1 thấy vậy nên bỏ chạy ra ngoài phòng trọ

hướng đi ra ngoài đường, trên đường bỏ chạy V1 cầm lấy 01 cây sắt để treo đồ, dài khoảng hơn 01m để tự vệ. Chạy được khoảng 10 mét thì V1 bị té ngã nằm nghiêng bên trái xuống đường. Lúc này, Đức A đuổi kịp V1 đồng thời dùng cây sắt đánh nhiều phát vào người V1, V1 đưa tay lên đỡ nên bị trúng vào tay phải. Bị đánh thì V1 ngồi dậy và bỏ chạy ngược lại vào hướng khu nhà trọ, Vũ leo qua tường rào và chạy thoát. Sau đó, V1 được mọi người đưa đến Bệnh viện I cấp cứu và nhập viện điều trị. Hậu quả: V1 bị gãy hở nát chỏm xương bàn III + đốt 1 ngón IV, V tay phải, kiểm tra Carm + nẹp bột Iseline ngón III, IV, V tay phải với tỷ lệ thương tích là 18% (Mười tám phần trăm).

Trong khi, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình sẽ xâm hại đến sức khỏe của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, hành vi nêu trên của Lê Đức A đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường phần lớn thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4] Về hình phạt: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi xảy ra mâu thuẫn với bị hại, bị cáo đã không xử lý đúng mực mà lại dùng vũ lực để giải quyết. Bị cáo biết rõ hành vi dùng 01 cây sắt vuông (cạnh 01cm, chiều dài 98cm) đánh vào người bị hại, trong khi bị hại đang bị té ngã nằm nghiêng đường thì có thể gây thương tích, tổn hại sức khỏe cho bị hại nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị hại cũng có một phần lỗi đó là phòng vệ quá mức cần thiết dẫn đến sự kích động của bị cáo (Ban đầu khi bị cáo chưa sử dụng hung khí thì bị hại đã dùng 01 con dao loại dao để gọt trái cây, dài 20cm chống trả, đuổi đánh bị cáo dẫn đến bị cáo chạy ra ngoài tìm được 01 cây gậy sắt thì bị hại cũng dùng 01 cây sắt khác chống trả) nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018,

Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

[5] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) gậy sắt, kích thước dài 98cm, cạnh vuông rộng 01cm là hung khí bị cáo gây án và 01 (một) cây sắt vuông rỗng, dài 51cm, cạnh 03cm, không phải là hung khí của vụ án nhưng Cơ quan điều tra thu thập được tại hiện trường. Xét thấy, giá trị sử dụng còn lại không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 cây sắt dài khoảng hơn 01m, có gắn móc sắt một đầu, loại để móc treo quần áo; 01 con dao loại dao để gọt trái cây, dài 20cm; 01 mũ bảo hiểm màu đen. Do Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không xem xét đến.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 100.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 74.000.000đ, còn 26.000.000đ thì giữa bị cáo và bị hại tự thỏa thuận thanh toán với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét đến.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Đức A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Đức A 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Lê Đức A cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy:

    • - 01 (một) gậy sắt, kích thước 98cm x 01cm.
    • - 01 (một) cây sắt vuông rỗng, dài 51cm, cạnh 03cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2023 tại Chi cục Thi hành án thành phố Bảo Lộc)

  1. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Đức A phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an TP. Bảo Lộc;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 148/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức A phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger