|
TÒA ÁN NHÂN DANH QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1478/2020/HNGĐ-ST
Ngày 24 tháng 9 năm 2020
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thiện Liên Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bính Thân
- Ông Trần Văn Phủ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2484/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Hoàng A - Sinh năm: 1981
Địa chỉ: 353 Lô P, cư xá T, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vắng mặt - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Huỳnh Minh B - Sinh năm: 1983
Địa chỉ: 353 Lô P, cư xá T, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Hoàng A trình bày:
Bà Nguyễn Ngọc Hoàng A và ông Huỳnh Minh B đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2007, ngày 20/4/2007). Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện. Bản chính giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc.
Trong quá trình chung sống giữa bà Hoàng A và ông B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do luôn bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình đôi bên không phù hợp. Bà Hoàng A và ông B đã nhiều lần tự hòa giải hàn gắn với nhau những vẫn không có kết quả. Đến nay thì mâu thuẫn giữa bà Hoàng A và ông B đã đến mức trầm trọng, không thể nào giải quyết được, tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đôi bên không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa vì vậy bà Hoàng A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Hoàng A ly hôn với ông Huỳnh Minh B để các bên có thể sớm ổn định cuộc sống của mình. Bà Hoàng A và ông B đã ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay.
Về con chung: Có 01 con chung là Huỳnh Minh C - sinh ngày 20/3/2010. Bà Hoàng A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà Hoàng A có đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Hiện Bà Hoàng A làm nhân viên làm công việc liên quan đến dán tem hàng hóa tại Công ty TNHH một thành viên dược Sài Gòn (Sapharco), địa chỉ 18-20 Nguyễn Trường Tộ, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo hợp đồng cộng tác viên số 25-2020/HĐCTV ngày 01/5/2020, mức thu nhập trung bình là 12.000.000 đồng/tháng. Bà Hoàng A làm việc giờ hành chính. Bà Hoàng A là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Huy từ khi trẻ Huy mới sinh ra cho đến nay. Hiện tại bà Hoàng A đang sinh sống cùng mẹ ruột nên sẽ được sự hỗ trợ của mẹ trong việc chăm sóc trẻ Huy.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà Hoàng A tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Bị đơn - ông Huỳnh Minh B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã thực hiện thủ tục triệu tập hợp lệ. Ông B cũng không gửi văn bản phản hồi đến Tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Hoàng A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn. Tòa đã tống đạt xét xử hợp lệ triệu tập bị đơn là ông Huỳnh Minh B tham gia phiên tòa sơ thẩm lần 1 mở ngày 01 tháng 9 năm 2020 và lần 2 mở ngày 24 tháng 9 năm 2020 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng vụ án mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Ngọc Hoàng A và ông Huỳnh Minh B ngày 20 tháng 4 năm 2007 cùng lời trình bày của đương sự có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Ngọc Hoàng A và ông Huỳnh Minh B là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, một gia đình hạnh phúc, bền vững phải được xây dựng từ thiện chí và tình cảm tự nguyện của vợ và chồng, nhưng đối với hôn nhân của bà Hoàng A và ông B, cả hai thể hiện sự không mong muốn tiếp tục duy trì hôn nhân, hôn nhân này không đạt được mục đích nên yêu cầu ly hôn của bà Hoàng A đối với ông B là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà Hoàng A xác nhận bà và ông B có 01 con chung là Huỳnh Minh C - sinh ngày 20/3/2010. Bà Hoàng A yêu cầu giao trẻ C cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Hoàng A có đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của bà Hoàng A có cơ sở chấp nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, nguyên đơn phải chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Hoàng A được ly hôn với ông Huỳnh Minh B.
- Về con chung: Giao trẻ Huỳnh Minh C - sinh ngày 20/3/2010 cho bà Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận việc bà Hoàng A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi trẻ C. Ông B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Hoàng A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0017420 ngày 18/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND quận Bình Thạnh; - Chi Cục THADS quận Bình Thạnh; - UBND Phường X, quận Y; - Các đương sự; - Lưu VP; Hồ sơ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thiện Liên Hương |
Bản án số 1478/2020/HNGĐ-ST ngày 24/09/2020 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1478/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A yêu cầu ly hôn với B, A nuôi con, không yêu cầu B cấp dưỡng, không yêu cầu giải quyết tài sản.
