Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành

Ông Nguyễn Trung Kiên

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2024/TLST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T; Sinh ngày 01/01/1987 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản K, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn K, sinh năm 1956 và bà Lò Thị Ó, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ là Lò Thị S, sinh năm 1988 (đã ly hôn), vợ thứ hai là Quàng Thị N, sinh năm 1980 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/3/2009, Lò Văn Thiết bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong bản án, hiện đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/5/2024, tạm giam từ ngày 09/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 31/5/2024, Lò Văn T một mình đi bộ từ nhà tại bản Khì 1, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản N, xã P, huyện T tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Lò Văn T gặp một người đàn ông tự giới thiệu là dân tộc Khơ Mú, nhà ở bản T, xã M, huyện T. Qua nói chuyện, người đó biết T đang đi tìm mua Heroine nên đã đưa cho T 100.000 đồng nhờ mua hộ Heroine để sử dụng. Lò Văn T đồng ý nhận tiền rồi đi bộ trong bản Noong Thăng thì gặp một đứa trẻ, theo T khai nhận là Nam giới, khoảng 12-13 tuổi, T không rõ lai lịch. Lò Văn T đã nhờ đứa trẻ đó mua hộ H và trả công 50.000 đồng. Lò Văn T lấy số tiền 300.000 đồng đưa cho đứa trẻ, trong đó có: 100.000 đồng của người đàn ông Khơ Mú nhờ T mua hộ, 150.000 đồng là tiền của T dùng để mua H và 50.000 đồng tiền công. Đứa trẻ cầm tiền và đi bộ vào trong bản Noong Thăng, khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho Lò Văn T 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng. Lò Văn T chia số Heroine mua được thành 02 gói rồi gói lại bằng mảnh nilon màu hồng, mục đích: để đưa cho người đàn ông Khơ Mú 01 gói, còn 01 gói để Lò Văn T sử dụng cho bản thân. Sau đó, Lò Văn T cất giấu cả 02 gói Heroine vào trong túi quần bên phải đang mặc và đi bộ về thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang hồi 18 giờ 25 phút cùng ngày tại bản Khì 1, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vật chứng thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của Lò Văn T 02 gói Heroine (đều được gói bằng nilon màu hồng) và số tiền 100.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 51 ngày 31/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 639 ngày 04/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T có tổng khối lượng là 0,48 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NDD-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,48 gam Heroine thu giữ của Lò Văn T, Cơ quan điều tra đã trích 0,1 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật). Vật chứng còn lại gồm: 0,38 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, số tiền 100.000 đồng hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,38 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Trả lại cho bị cáo Lò Văn T số tiền 100.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 31/5/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn T đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người đàn ông không rõ lai lịch với số tiền 300.000 đồng. Sau đó, Lò Văn T chia số Heroine mua được thành 02 gói, mục đích: để sử dụng. Đến hồi 18 giờ 25 phút cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Lò Văn Thiết bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của Lò Văn T 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,48 gam.

Bị cáo Lò Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,48 gam Heroine mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn T sinh ra tại huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo được học hết lớp 9/12, là người nghiện chất ma tuý. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2009 đã bị Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xoá án tích. Bị cáo biết rõ hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,48 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định 0,1 gam không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết; Đối với 0,38 gam Heroine còn lại là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ; đối với 02 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Trả lại cho bị cáo Lò Văn T số tiền 100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Các vấn liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Lò Văn T khai mua từ một người không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Đối với người đàn ông đưa 100.000 đồng cho Lò Văn T để nhờ đi mua hộ Heroine, Lò Văn T không biết nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Theo lời khai của Lò Văn T: khoảng 17 giờ ngày 31/5/2024, Lò Văn T đã trả công 50.000 đồng cho một đứa trẻ khoảng 12 – 13 tuổi nhờ đi mua hộ 01 gói Heroine với số tiền 250.000 đồng, đây là hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội. Tuy nhiên, Lò Văn T không rõ lai lịch của đứa trẻ mà T đã nhờ mua H và trả công nên không có cơ sở để xác minh làm căn cứ xác định tình tiết định khung hình phạt đối với Lò Văn T theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, Lò Văn T còn khai nhận: Trưa ngày 31/5/2024, tại bản N, xã P, huyện T, Lò Văn T đã mua 01 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng từ một người không rõ lai lịch. Sau đó, Lò Văn T đã bán gói Heroine này cho một người đàn ông tên là N1 (không rõ lai lịch) lấy 300.000 đồng. Ngoài lời khai của Lò Văn T không còn tài liệu nào khác để kiểm chứng lời khai của bị cáo về lần mua bán trái phép chất ma túy này, do vậy Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để kết luận, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
  • - Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 08 (T1) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 31/5/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,38 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 02 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Trả lại cho bị cáo Lò Văn T số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 31/5/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger