Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 7 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lương Khoa
  2. Bà Linh Thị Ngọc Thạch

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trường H, T gọi khác: H. Sinh năm 1982 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: tại phiên tòa bị cáo xác định về tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Nguyễn Trường V (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1942. Vợ, con: Không.Tiền án: Có 03 tiền án, cụ thể:

  • Tại Bản án số 38/2017/HSST ngày 16/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 29/7/2018, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích.
  • Tại Bản án số 11/2019/HSST ngày 31/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngày 16/04/2020, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích.
  • Tại Bản án số 01/2021/HSST ngày 06/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngày 18/9/2022, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 04/3/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn từ biện pháp tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Phan Xuân N, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Phạm Đăng K, sinh năm: 1992.

Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Người làm chứng: Bá Ngọc H2, sinh năm: 1983

Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường H là đối tượng có 3 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, mới chấp hành án phạt tù xong vào tháng 9 năm 2022, chưa được xóa án tích. Đã có hành vi cùng với Phạm Đăng K, trộm cắp tài sản như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 23/01/2024, K đem theo 01 cây kìm cộng lực loại nhỏ kích thước 35cm và điều khiển xe mô tô biển số 52K5-3857 chở H ngồi phía sau đi từ nhà của K để đi tìm người dân nào sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Khi đi ngang chòi rẫy của ông Phan Xuân N, sinh năm 1975, trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, HK quan sát thấy chòi rẫy không có người trông coi, xung quanh chòi được rào bằng lưới B40 (loại lưới bằng sắt, cao 1,2m) nên HK đã nảy sinh ý định cắt trộm lưới B40 của ông N để bán lấy tiền tiêu xài. HK đã dùng kìm cộng lực chuẩn bị sẵn từ trước cắt được 02 đoạn lưới (mỗi đoạn khoảng 05m), tổng trọng lượng khoảng 30kg, sau đó cuốn lại bỏ lên xe mô tô mang đi tiêu thụ. Khi đến đoạn đường X - L thuộc ấp T, xã X thì HK bị người dân phát hiện nghi vấn vừa trộm cắp tài sản nên giữ lại và trình báo cơ quan Công an tiếp nhận xử lý theo quy định.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của UBND huyện X kết luận: Giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt của 02 đoạn lưới B40, mỗi đoạn dài 05m, tổng trọng lượng 30kg, đã qua sử dụng là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

- 02 đoạn lưới sắt B40 (mỗi đoạn dài 05m), tổng trọng lượng 30kg, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả tài sản trên cho ông Phan Xuân N theo quy định pháp luật. Ông N đã nhận lại và không yêu cầu gì thêm về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau.

- 01 chiếc kìm cộng lực kích thước dài 35cm, cán màu đỏ - đen, là công cụ do Phạm Đăng KNguyễn Trường H sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

- 01 (một) xe mô tô gắn biển số 52K5-3857 là phương tiện HK sử dụng để trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định biển số 52K5-3857 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu DONA, số máy: 152FM00050022, số khung LXDXCHL07Y7000022 do ông Lâm Chí C, sinh năm 1968, thường trú tại phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu và ông C đã bán xe mô tô trên, không xác định đã bán cho ai, vào thời gian nào do thời gian đã lâu. Tiến hành kiểm tra số khung, số máy trên xe mô tô gắn biển số 52K5-3857 xác định xe mô tô trên có số máy: VPJL1P39FMB2002554, số khung: VHTDCB013HT002550 (không có dấu hiệu bị đục, tẩy xóa). Qua tra cứu xác định xe mô tô gồm số khung, số máy trên cấp cho xe mô tô gắn biển số 60FL-5831 do ông Ngô Hải N1, sinh năm 1956, thường trú xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đứng tên sở hữu, tuy nhiên ông N1 đã chết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X tách ra, tiếp tục xác minh xử lý sau theo quy định pháp luật.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, Nguyễn Trường HPhạm Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

* Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSXL ngày 23 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện X truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo mức án từ 10 tháng đến 14 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm cộng lực kích thước dài 35cm, cán màu đỏ - đen.

- Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thống nhất với Cáo trạng và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mô tả.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được ở ngoài uống thuốc điều trị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra huyện X, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc thực hiện đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Nguyễn Trường H là đối tượng đang có 3 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Vào ngày 23/01/2024, tại chòi rẫy của ông Phan Xuân N, sinh năm 1975, thường trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Trường HPhạm Đăng K đã có hành vi dùng kìm cộng lực cắt trộm 02 đoạn lưới B40, tổng trọng lượng 30kg, của ông N nhằm bán lấy tiền tiêu xài, trên đường đem đi tiêu thụ thì bì bị người dân phát hiện báo cho Công an. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Trường H đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây thiệt hại về tài sản của người khác. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là sai trái nhưng vì bản tính lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ nên vẫn cố ý lén lút thực hiện. Mặt khác, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhiều lần về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật thể hiện sự ngang nhiên coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • 02 đoạn lưới sắt B40 (mỗi đoạn dài 05m), tổng trọng lượng 30kg, đã qua sử dụng là tài sản của ông Phan Xuân N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả tài sản trên cho ông N theo quy định pháp luật là phù hợp. Ông N đã nhận lại tài sản, và không yêu cầu gì thêm về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau.
  • 01 chiếc kìm cộng lực kích thước dài 35cm, cán màu đỏ - đen, là công cụ do Phạm Đăng KNguyễn Trường H sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) xe mô tô gắn biển số 52K5-3857 là phương tiện HK sử dụng để trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định biển số 52K5-3857 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu DONA, số máy: 152FM00050022, số khung LXDXCHL07Y7000022 do ông Lâm Chí C, sinh năm 1968, thường trú tại phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu và ông C đã bán xe mô tô trên, không xác định đã bán cho ai, vào thời gian nào do thời gian đã lâu. Tiến hành kiểm tra số khung, số máy trên xe mô tô gắn biển số 52K5-3857 xác định xe mô tô trên có số máy: VPJL1P39FMB2002554, số khung: VHTDCB013HT002550 (không có dấu hiệu bị đục, tẩy xóa). Qua tra cứu xác định xe mô tô gồm số khung, số máy trên cấp cho xe mô tô gắn biển số 60FL-5831 do ông Ngô Hải N1, sinh năm 1956, thường trú xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đứng tên sở hữu, tuy nhiên ông N1 đã chết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X tách ra, tiếp tục xác minh xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.

[7] Đối với Phạm Đăng K đã có hành vi cùng thực hiện trộm cắp tài sản với Nguyễn Trường H. Tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, K chưa có tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm sở hữu. Do đó, hành vi trên của Phạm Đăng K chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi trên của Phạm Đăng K đã vi phạm hành chính quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Đăng K là đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ các điều 106; 136, 298, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H: 08 (T1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 04/3/2024).
  2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm cộng lực kích thước dài 35cm, cán màu đỏ - đen.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND Tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra/Cơ quan An ninh điều tra (Đơn vị điều tra);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger