|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 147/2024/DS-ST
Ngày: 26 - 7 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sơn
Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2024/TLST-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng góp hụi" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Qyết định hoãn phiên tòa số 204/2024/QĐST ngày 08/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1977 (có mặt). Địa chỉ: ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1966 (vắng mặt) và ông Đinh Hoàng V (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2024 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn H là ông Nguyễn Hoàng L trình bày: Bà Nguyễn Thị Ngọc H có tham gia các dây hụi, do bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đình Hoàng V1 làm chủ hụi, trong quá trình tham gia hụi, bà H đã đóng hụi sống cho bà T, nhưng đến nay bà T và ông V1 không giao tiền hụi cho bà, cụ thể như sau:
- Dây hụi 01: Hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 01/04/2021 âm lịch, có 25 phần, vợ chồng tôi tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên "Hợp", bà đóng hụi sống được 19 lần, tính hụi có lãi thì tôi đóng được số tiền: 5.000.000 đồng x 19 lần x 01 phần = 95.000.000 đồng. Nhưng hụi này bà T ngưng hụi và bà T không giao hụi cho bà nhưng người nào có hụi chết thì bà T, ông V1 vẫn đi gom hụi chết, vì vậy bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V có trách nhiệm trả lại số tiên dây hụi này là 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng).
- Dây hụi 02: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 15/06/2022 âm lịch, có 20 phần, tôi tham gia 03 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên "Hợp", bà đóng hụi sống được 04 lần, tính hụi có lãi thì tôi đông được số tiền: 2.000.000 đồng x 04 lần x 03 phần = 24.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 11/2022 dương lịch bà T bị bể hụi và không khui nữa. Vì vậy bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đình Hoàng V1 có trách nhiệm trả lại số tiền dây hụi này là 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).
- Dây hụi 03: Hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 10/07/2022 âm lịch, có 25 phần, tôi tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên “Hợp”, bà đóng hụi sống được 04 lần, tính hụi có lãi thì đóng được số tiền: 5.000.000 đồng x 4 lần x 02 phần = 40.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 11/2022 dương lịch bà T bị bể hụi và không khui nữa. Vì vậy tôi yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V có trách nhiệm trả lại số tiền dây hụi này là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Tổng cộng số tiền 03 dây hụi bà T, ông Vũ t bà là: 95.000.000 đồng + 24.000.000 đồng + 40.000.000 đồng = 159.000.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu đồng).
Nay bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu tòa án huyện K, tỉnh Sóc Trăng xem xét và giải quyết như sau: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà tổng số tiền hụi còn thiếu là 159.000.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu đồng), bà không yêu cầu tính lãi suất.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, thông báo về tham gia phiên hợp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và đến giai đoạn xét xử. Nhưng bà tuyền, ông V vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản hay ý kiến gì gởi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện và không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục:
[1] Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến để công khai, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử thì bị đơn đều vắng mặt, không có người đại diện tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn T và V.
* Về quan hệ tranh chấp:
[2] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V có trách nhiệm liên đới trả tiền hụi tổng cộng 03 dây hụi là 159.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất; Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
*Về nội dung:
[1] Nguyên đơn trình bày về nội dung yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hụi tổng cộng là 159.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi tham gia góp hụi, phía nguyên đơn và bị đơn đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc tham gia góp hụi trên cơ sở tự nguyện của hai bên, không trái đạo đức xã hội, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, nên việc tham giá góp hụi giữa nguyên đơn và bị đơn là có căn cứ.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy rằng: Bị đơn có tham gia góp hụi đối với nguyên đơn đã thể hiện qua danh sách những người tham gia góp hụi và nguyên đơn đã đóng hụi cho bị đơn gồm dây hụi tháng 500.000 đồng mở ngày 01/4/2021 âm lịch số tiền 95.000.000 đồng; dây hụi tháng 2.000.000 đồng mở ngày 15/6/2022 âm lịch số tiền 24.000.000 đồng; dây hụi tháng 5.000.000 đồng mở ngày 10/7/2022 âm lịch số tiền 40.000.000 đồng, tổng cộng số tiền của các dây hụi là 159.000.000 đồng, hiện nay bị đơn chưa trả nguyên đơn. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V phải có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền nợ hụi là 159.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[4] Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 468; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V phải có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền nợ hụi là 159.000.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu đồng).
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị đơn còn phải trả lãi cho nguyên đơn mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
- Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm cụ thể là: 159.000.000 đồng x 5% = 7.950.000 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H được nhận lại số tiền tạm ứng án đã nộp là 3.975.000 đồng theo biên lai thu số 0003740 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhẫn |
Bản án số 147/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 147/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
