Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Võ Kim Hường
  2. Bà Trần Quang Cảnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử hình sự Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST – HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh D; giới tính: N; sinh năm: 1972; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; thường trú: 1 Đ, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 1 Đ, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Trần Văn C (đã mất) và bà Huỳnh Thị P (đã mất); A, chị, em ruột: 04 người (lớn nhất sinh năm 1963, nhỏ nhất sinh năm 1974); vợ: Nguyễn Thị Ú, đã ly hôn; con: 01 người, sinh năm 2008; Nhân thân: Năm 1993, bị Công an quận T bắt về hành vi “Cướp giật tài sản”, sau đó Viện Kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức ra quyết định đình chỉ điều tra đối với D. Ngày 05/9/2003, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 01 năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 03/3/2004; Tiền sự: Không; tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 – Có mặt;

- Bị hại: Bà Lê Thị V, sinh năm 1968; Địa chỉ: C Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Yến N1, sinh năm 2008; Địa chỉ: 1 Đ, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp nên Trần Thanh D nảy sinh ý định cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ.

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 18/12/2023, D điều khiển xe máy điện hiệu Vinfast màu trắng, không gắn biển số xe đi tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đi ngang tiệm V2, địa chỉ: C Â, phường P, quận T, thấy không có khách nên D nảy sinh ý định giả làm khách hỏi mua vàng để lấy vàng của chủ tiệm rồi bỏ chạy. D dựng xe máy điện trên vỉa hè trước số C Â, phường P, quận T (đầu xe hướng ra phía ngoài, trên xe cắm sẵn chìa khóa) rồi đi vào trong tiệm vàng gặp ông Võ Thanh V1 và bà Lê Thị V đứng bán vàng nên D xem và yêu cầu bà V đưa cho D một lắc vàng. Bà V lấy 01 cái lắc khoen Lật chữ N bọng với trọng lượng 12 chỉ 78, loại vàng 61 từ trong tủ kính ra đưa cho D xem. Sau khi nhận được lắc vàng, D giả vờ xem rồi nhanh chóng chạy ra ngoài tiệm vàng đến vị trí xe máy điện của D. Trong lúc chạy D dùng tay phải cất chiếc lắc vàng bỏ vào trong túi quần phía sau bên phải.

Lúc này, bà V thấy Danh cầm lắc vàng bỏ chạy nên truy hô “Cướp...cướp” còn ông V nhảy qua tủ trưng bày chạy đuổi theo ngay phía sau D. Khi D lên xe máy điện và đề máy xe để tẩu thoát thì bị người dân gần đó đạp ngã xe. D đứng dậy bỏ xe chạy bộ thì bị ông V cùng quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho Công an phường P, quận T xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Trần Thanh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập.

Theo Kết luận định giá tài sản số 250/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, thời điểm định giá ngày 18/12/2023, kết luận: 01 cái lắc khoen Lật chữ N bọng với trọng lượng 12 chỉ 78, loại vàng 61 trị giá 47.925.000 đồng. (BL 71)

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 cái lắc khoen Lật chữ N bọng với trọng lượng 12 chỉ 78, loại vàng 61, Cơ quan điều tra đã trả cho bà Lê Thị V. (BL 60)
  • - 01 xe máy điện hiệu Vinfast hiệu EVO 200, màu trắng, không gắn biển số xe, số khung: RPXP2LHLVPE029676, số máy: VFHCEAE230713D0272; 01 biển số xe 41MĐ1-013.74 được D cất trong cốp xe. Qua xác minh chiếc xe trên do chị Trần Yến N1, địa chỉ: 1 Đ, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký chủ sở hữu. (BL 59)

Qua làm việc, chị Trần Yến N1 trình bày xe máy điện trên do bác ruột mua cho N1 làm phương tiện đi học. Ngày 18/12/2023, bố ruột của chị N1Trần Thanh D mượn xe trên để đi công việc. Chị N1 không biết việc D sử dụng xe trên để đi cướp giật tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy điện trên cho chị N1. (BL 61)

  • - 01 cái bóp màu nâu, là tài sản của D sử dụng cá nhân.
  • - 01 mũ bảo hiểm có nhãn hiệu Vinfast màu xanh đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc tím trắng; 01 quần jeans dài màu xanh; 01 đôi giày thể thao màu trắng có ghi dòng chữ “NIKE”, là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu nâu, đã qua sử dụng, là điện thoại D sử dụng cá nhân.
  • - 01 đĩa CD kèm hồ sơ vụ án.

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 117/PNK ngày 13/5/2024 của Công an quận T. (BL 138)

Về phần dân sự: Bà Lê Thị V đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác. (BL 86)

Tại Bản cáo trạng số 140/CT-VKSQ.TP ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh D về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thanh D về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh D mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị V đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo Trần Thanh D đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng tang vật và các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 18/12/2023, Trần Thanh D có hành vi cướp giật 01 cái lắc khoen lật chữ N bọng với trọng lượng 12 chỉ 78, loại vàng 61 trị giá 47.925.000 đồng tại tiệm V2, địa chỉ C Â, phường P, quận T thì bị bắt giữ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Ngoài ra, khi lượng hình cần xem xét đến nhân thân của bị cáo ngày 05/9/2003, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 01 năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 03/3/2004. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 cái bóp màu nâu, là tài sản của bị cáo D sử dụng cá nhân đã cũ không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại xét nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 mũ bảo hiểm có nhãn hiệu Vinfast màu xanh đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc tím trắng; 01 quần jeans dài màu xanh; 01 đôi giày thể thao màu trắng có ghi dòng chữ “NIKE”, là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã cũ không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại xét nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu nâu, đã qua sử dụng, là điện thoại D sử dụng cá nhân không liên quan đến việc phạm tội xét nên trả lại cho bị cáo;

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 117/PNK ngày 13/5/2024 của Công an quận T.

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đĩa CD ghi hình ảnh liên quan đến việc phạm tội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) lẽ ra bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Nhưng do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo:

Trần Thanh D 03 (ba) năm tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 cái bóp màu nâu; 01 mũ bảo hiểm có nhãn hiệu Vinfast màu xanh đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc tím trắng; 01 quần jeans dài màu xanh; 01 đôi giày thể thao màu trắng có ghi dòng chữ “NIKE”.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Thanh D 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu nâu.

(Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 117/PNK ngày 13/5/2024 của Công an quận T).

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đĩa CD ghi hình ảnh liên quan đến việc phạm tội.

[5] Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an quận Tân Phú;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Viện KSND TP. HCM;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Chinh

Tịch thu tiêu huỷ 01 cái bóp màu nâu; 01 mũ bảo hiểm có nhãn hiệu Vinfast màu xanh đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 khẩu trang màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc tím trắng; 01 quần jeans dài màu xanh; 01 đôi giày thể thao màu trắng có ghi dòng chữ “NIKE”.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trần thanh danh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger