Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Hoàng Thị Hội.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 04/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 144/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với:

1. Mùa Thị S, sinh ngày: 02/8/1974 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Mùa A L (đã chết) và bà Vàng Thị G; bị cáo có chồng là Vàng A C (đã chết), có 02 con; con lớn sinh năm 1994; con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay, có mặt.

2. Lữ Thế L1, sinh ngày: 17/9/1982 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản Áng, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lữ Thế L2 (đã chết) và bà Lường Thị Y; bị cáo có vợ là Hoàng Thị P, có 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/12/2018 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng (đã được xóa tiền sự); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà Hoàng Thị P, sinh năm: 1983, nơi cư trú: Bản Áng, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 20 phút ngày 21/3/2024 tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M tiến hành kiểm tra xe mô tô BKS: 26G1 - 283.15 do Lữ Thế L1 điều khiển. Qua kiểm tra phát hiện Lữ Thế L1 đang cầm trong tay trái 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng và 01 gói nilon màu đỏ bên trong đựng 11 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Lữ Thế L1 khai nhận đó là ma túy của L1 vừa mua của Mùa Thị S để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Lữ Thế L1, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ của Lữ Thế L1 01 chiếc xe mô tô BKS: 26G1 - 283.15, 01 chiếc điện thoại di động và dẫn giải Lữ Thế L1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.

Mở rộng điều tra vụ án, hồi 20 giờ ngày 21/3/2024 tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Mùa Thị S đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Mùa Thị S đang cất giấu trong túi đeo trước bụng 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine và 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine cùng số tiền 500.000 đồng. Mùa Thị S khai nhận đó là ma túy của S cất giấu để bán kiếm lời và số tiền 500.000 đồng là do bán ma túy cho Lữ Thế L1 mà có. Căn cứ hành vi vi phạm của Mùa Thị S, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Mùa Thị S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.

Ngày 22/3/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét chỗ ở đối với Mùa Thị S, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 21/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lữ Thế L1 được 1,36 gam, lấy 0,36 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu L1; khối lượng 11 viên nén màu hồng thu giữ của Lữ Thế L1 được 1,22 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,55 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu L2.

Ngày 22/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Mùa Thị S được 0,41 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu S1; 05 viên nén màu hồng được 0,53 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu S2.

Tại Kết luận giám định số 740 ngày 26/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận:

“- Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu L2 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,55 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,36 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và 1,22 gam, loại Methamphetamine”.

Tại Kết luận giám định số 741 ngày 24/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận:

“- Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,41 gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu S2 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,53 gam.

Ngày 25/3/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành cho Lữ Thế L1 nhận dạng đối với Mùa Thị S. Kết quả sau 03 lần nhận dạng, Lữ Thế L1 đều nhận dạng và xác nhận Mùa Thị S là người đã bán ma túy cho L1 vào ngày 21/3/2024.

Quá trình điều tra Mùa Thị S và Lữ Thế L1 khai nhận: Bản thân Lục nghiện chất ma túy còn Sênh không nghiện ma túy, giữa S và L1 có mối quan hệ quen biết nhau từ trước. Khoảng 16 giờ ngày 20/3/2024 S đi hái rau tại bản Co Sung, xã Đ gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. Qua trao đổi, S mua được của người phụ nữ 01 gói nilon màu hồng đựng Heroine và 16 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng mục đích mang về cất giấu để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu trong túi vải đeo trước bụng rồi đi về. Khoảng 10 giờ ngày 21/3/2024 L1 gọi điện thoại hỏi mua ma túy của Sênh 1.000.000 đồng tiền ma túy, S đồng ý bán và hẹn giao dịch mua bán ma túy với L1 tại nhà của S. Sau đó, L1 điều khiển xe mô tô BKS: 26G1 - 283.15 đi đến nhà của S, gặp một mình S đang ở nhà, L1 trao đổi mua của S 01 gói Heroine và 11 viên hồng phiến với giá 1.000.000 đồng. Do không đủ tiền, L1 trả trước cho S 500.000 đồng, số tiền còn lại hẹn S mang đến trả sau. Lục nhận số ma túy mua được của S và gói vào mảnh nilon để mang về. Trên đường đi về đến bản C, xã Đ, L gặp tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Sau đó S mang theo số ma túy còn lại cất trong túi vải đi bộ trên đường dân sinh bản Co Sung, xã Đ thì gặp tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Tại phiên tòa các bị cáo Mùa Thị S, Lữ Thế L1 trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị P trình bày: Chiếc xe mô tô BKS: 26G1-283.15 là tài sản của bà Hoàng Thị P mua lại ở cửa hàng X ở thị trấn M với giá 38.000.000 đồng, bị cáo Lữ Thế L1 sử dụng xe máy để đi mua ma túy, bà P không biết và không liên quan.

Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Mùa Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị can Lữ Thế L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Mùa Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Lữ Thế L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Mùa Thị S từ 05 năm đến 06 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lữ Thế L1 từ 27 tháng đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 26G1 - 283.15 cho bà Hoàng Thị P quản lý, sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng; 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY AO2 vỏ màu đen thu giữ của Lữ Thế L1; 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 2029 vỏ màu xanh thu giữ của Mùa Thị S.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Lữ Thế L3 bắt ngày 21/3/2024. (mảnh ni lon màu đỏ, mảnh ni lon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu, mẫu còn lại ký hiệu L3 = 01 gam Heroine; L4 = 0,67 gam Methamphetamine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Mùa Thị S bắt ngày 21/3/2024 (mảnh ni lon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Mùa Thị S; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lữ Thế L1; 01 vỏ phong bì cũ gửi giám định; 02 sim điện thoại.

4. Bị cáo Mùa Thị S được miễn phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lữ Thế L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Mùa Thị S, Lữ Thế L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huyện M thu giữ của bị cáo Lữ Thế L1 vào ngày 21/3/2024 có nguồn gốc mua được của Mùa Thị S với giá 1.000.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngày 21/3/2024 Mùa Thị S đã bán cho Lữ Thế L1 2,58 gam Heroine và M với giá 1.000.000 đồng, khi L1 cất giấu ma túy đi về thì bị phát hiện, thu giữ, ngày 21/3/2024 khi bị tổ công tác Công an huyện M thu giữ của bị cáo Mùa Thị S 0,41 gam Heroine và 0,53 gam Methamphetamine cùng số tiền bán ma túy cho L1. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện M lập vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/3/2024 đối với Lữ Thế L1; biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện M lập vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 21/3/2024 đối với Mùa Thị S; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định số 740 ngày 26/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu L2 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,55 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,36 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và 1,22 gam, loại Methamphetamine"; Kết luận giám định số 741 ngày 24/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,41 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu S2 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,53 gam". Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 và Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 9 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Mùa Thị S, Lữ Thế L1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Ngày 21/3/2024 Mùa Thị S đã có hành vi bán trái phép cho Lữ Thế L1 2,58 gam Heroine và Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng; cất giấu 0,41 gam Heroine và 0,53 gam Methamphetamine để bán kiếm lời. Ngày 21/3/2024 Lữ Thế L1 có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 1,36 gam Heroine và 1,22 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Căn cứ Điều 4 Chương II Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng của hai chất Methamphetamine và Heroine của Lữ Thế L1 là: 1,36 gam + 1,22 gam = 2,58 gam.

Mùa Thị S có hành vi bán hai chất ma túy, tổng khối lượng của hai chất Methamphetamine và H mà Mùa Thị S phải chịu trách nhiệm hình sự là 2,58 gam + 0,53 gam + 0,41 gam = 3,52 gam.

Do đó, hành vi của bị cáo Mùa Thị S đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lữ Thế L1 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Mùa Thị S không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Lữ Thế L1 không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của các các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với các bị cáo.

Bị cáo Lữ Thế L1 được hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ là bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm ; bị cáo có bố đẻ là ông Lữ Thế L2 là người có công với Nhà nước được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Ba đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Lữ Thế L1 có nhân thân xấu là đối tượng nghiện hút chất ma túy, đã có 01 tiền sự ngày 27/12/2018 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 27/12/2020 đã được xóa tiền sự. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo Lữ Thế L1, Mùa T là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 26G1 – 283.15 thu giữ của Lữ Thế L1 là tài sản hợp pháp của bà Hoàng Thị P việc bị cáo Lữ Thế L1 sử dụng xe máy đi mua ma túy, bà Hoàng Thị P không biết và không liên quan xét thấy cần tuyên trả lại cho bà Hoàng Thị P quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của Mùa Thị S; 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY AO2 vỏ màu đen thu giữ của Lữ Thế L1; 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 2029 vỏ màu xanh thu giữ của Mùa Thị S, xét thấy là công cụ, phương tiện để các bị cáo liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội và là tiền các bị cáo phạm tội mà có theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Lữ Thế L3 bắt ngày 21/3/2024 (mảnh ni lon màu đỏ, mảnh ni lon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu, mẫu còn lại ký hiệu L3 = 01 gam Heroine; L4 = 0,67 gam Methamphetamine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Mùa Thị S bắt ngày 21/3/2024 (mảnh ni lon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Mùa Thị S; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lữ Thế L1; 01 vỏ phong bì cũ gửi giám định; 02 sim điện thoại, xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí:

Tại phiên tòa, bị cáo Mùa Thị S có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy bị cáo Mùa Thị S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lữ Thế L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo Mùa Thị S tại bản Co Sung, xã Đ, huyện M. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam của các bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Mùa Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mùa Thị S 60 (Sáu mươi) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Lữ Thế L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lữ Thế L1 27 (Hai bẩy) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 26G1 – 283.15; số máy 2383817; 06 số khung cuối 105101, xe đã qua sử dụng cho bà Hoàng Thị P quản lý, sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GLAXY AO2 vỏ màu đen thu giữ của Lữ Thế L1; 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 2029 vỏ màu xanh thu giữ của Mùa Thị S.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Lữ Thế L3 bắt ngày 21/3/2024 (mảnh ni lon màu đỏ, mảnh ni lon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu, mẫu còn lại ký hiệu L3 = 01 gam Heroine; L4 = 0,67 gam Methamphetamine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Mùa Thị S bắt ngày 21/3/2024 (mảnh ni lon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Mùa Thị S; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lữ Thế L1; 01 vỏ phong bì cũ gửi giám định; 02 sim điện thoại.

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Mùa Thị S. Buộc bị cáo Lữ Thế L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lương Long Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mùa Thị S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, Lữ Thế L phamjt ội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger