|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 147/2025/HS-PT
Ngày 18 tháng 3 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Chung Văn Kết; |
| Các Thẩm phán: | Bà Bùi Thị Thu; |
| Bà Nguyễn Thị Thanh. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Đức Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1140/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh Q và bị cáo Trần Nguyễn Đăng K do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2024//HS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Minh Q, sinh ngày 06/5/2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số C khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Ả, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2022 đến ngày 14/7/2023 thay thế từ biện pháp tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh (có mặt).
2. Trần Nguyễn Đăng K, sinh năm 2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số B đường số A, tổ dân phố A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến ngày 06/02/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người bào chữa chỉ định cho các bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Nguyệt N - Đoàn luật sư T8 (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án có 10 bị cáo khác, bị hại anh Võ Đông Đ và 12 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 02/8/2022, sau khi uống rượu ở quán “Cây Me", nhóm của Nguyễn Hữu C gồm: C, Nguyễn Văn T, Phan Phước L, Nguyễn Tú D1, Khươu Văn L1, Hồ Nguyễn P, Mai San S, Trần Chí T1 và một số bạn đi đến tập trung phía trước nhà trọ ở 1 đường B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (viết tắt là nhà trọ 128/4) để nói chuyện.
Lúc này, nhóm của Cao Thành Đ1 gồm: Đ1, Đoàn Nguyễn Thiên P1, Nguyễn Trọng V, Bùi Nguyễn Quốc H1, Phạm Lê Thanh T2, Phan Quốc T3, Nguyễn Trọng L2 điều khiển xe mô tô đi qua đường B đoạn ở phía trước nhà trọ 128/4 thì nhìn thấy một số người (không rõ là ai) trong nhóm của C chửi tục và dùng tay ra hiệu gọi nhóm của Đ1. Nghĩ là nhóm C khiêu khích và thách thức đánh nhau nên Đ1, V quay lại chửi nhóm C, đồng thời nói P1, H1, Thanh T2, T3, L2 gọi thêm người đánh nhóm C. Sau đó, nhóm Đ1 điều khiển xe mô tô đi đến quán nước (không nhớ rõ tên, địa chỉ cụ thể) ở phía trước cổng Bệnh viện đa khoa Thành phố Trủ thêm Huỳnh Ngọc H2, Phạm Lê Thanh T4, Nguyễn Minh Q, Trần Nguyễn Đăng K, Nguyễn Minh P2, Phạm Quốc K1 và Duy B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi đánh nhóm C thì tất cả đồng ý và điều khiển xe mô tô đi đến khu vực C2 thuộc phường A, thành phố D lấy nhiều khúc gỗ và gạch ống ở gần đó làm hung khí. V điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave (không rõ biển số) chở Đ1, Thanh T4 (Đ1 cầm 01 viên gạch ống và 01 khúc gỗ, Thanh T4 cầm 02 khúc gỗ); P1 điều khiển xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, biển số 59X3-384.73 chở H1 cầm 01 khúc gỗ và 01 viên gạch ống; L2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 59X3-535.93 chở T3, Thanh T2 (Triệu cầm 01 khúc gỗ, Thanh T2 cầm 01 viên gạch ống); Q điều khiển xe mô tô hiệu Y, biển số 61D1-967.04 chở H2, K (H2 cầm 01 khúc gỗ); Duy B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future (không rõ biển số) chở K1 (K1 cầm 01 khúc gỗ) và P2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream (không rõ biển số) đi tìm nhóm C để đánh nhau.
Đ1 và đồng phạm đi đến phía trước nhà trọ 128/4 thì nhìn thấy nhóm C đang đứng nói chuyện nên nhóm Đ1 cầm khúc gỗ, gạch ống đi đến đuổi đánh, bị đánh bất ngờ nên nhóm C bỏ chạy vào trong nhà trọ. Khi thấy trước nhà trọ 128/4 có một xe mô tô hiệu Daehan Wave, biển số 66M1 – 7474 của anh Nguyễn Văn T đang đỗ thì Đ1, T4, V, H1, Thanh T2, K1, Duy B dùng khúc gỗ đập phá, K dùng chân đạp vào xe mô tô. Đ1 và đồng phạm lên xe đi về hướng cầu vượt S, sau đó tiếp tục quay lại nhà trọ 128/4 để tiếp tục tìm đánh nhóm C. Khi đi đến cổng nhà trọ, Q, L2, P1, V, P2, Thanh T2, K đứng ở phía trước cổng nhà trọ để cảnh giới và giữ xe mô tô; còn Đ1 đi đến đạp cửa nhà trọ để Đ1, H1, Thanh T4, K1, H2, T3, В cầm khúc gỗ hướng vào hành lang nhà trọ đuổi đánh nhóm C khiến nhóm của C bỏ chạy. Tại thời điểm này, anh Võ Đông Đ (bạn của C) đến đứng gần cửa cổng nhà trọ 128/4 để xem sự việc. Nhìn thấy anh Đ, H1 dùng khúc gỗ đánh 02 nhát trúng vào người anh Đ, Đ1 dùng khúc gỗ đánh 02 nhát trúng vào người anh Đ khiến anh Đ ngã xuống. Khi khúc gỗ Đ1 dùng để đánh anh Đ bị gãy, Đ1 lấy khúc gỗ từ trên tay H1 và dùng khúc gỗ này đánh nhiều nhát vào vùng đầu của anh Đ. Thanh Tài, K1, H2, T3 và Duy B cũng dùng khúc gỗ đánh nhiều nhát trúng vào vùng đầu, mặt của anh Đ. Sau đó, Đ1 và đồng phạm bỏ lại một số khúc gỗ, gạch ống rồi điều khiển xe mô tô tẩu thoát khỏi hiện trường.
Anh Đ được người dân đưa đi điều trị tại Bệnh viện đến rạng sáng ngày 03/8/2022 xuất viện. Cùng ngày, anh Đ đến cơ quan Công an trình báo sự việc trên. Lực lượng Công an đã tiến hành bắt giữ Đ1, V, P1, H1, Thanh T2, T, Q, K, K1, L2, P2, T3, H2 về hành vi phạm tội như trên.
Thu giữ vật chứng (tại bút lục số 02): 03 (ba) khúc gỗ; 03 (ba) viên gạch ống loại 04 lỗ đã bị vỡ; 01 (một) xe mô tô hiệu Daehan Wave, biển số 66M1-7474.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 594 ngày 22/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Võ Đông Đ, kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- 03 vết thương đầu vùng đỉnh – thái dương phải (1,5 x 0,1)cm, (1,3 x 0,2)cm và (0,7 x 0,1)cm, sẹo lành.
- Vết trầy sướt da vùng góc mũi (1,5 x 0,2)cm, gãy xương chính mũi.
- Sây sát da vùng gò mái trái đã lành. Gãy cung tiếp gò má trái.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 20% (hai mươi phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích:
- 03 vết thương đầu vùng đỉnh – thái dương phải: Chiều nằm dọc từ trước ra sau, hướng từ trên xuống, bờ không rõ, khả năng do vật tày gây ra.
- Vết trầy sướt da vùng góc mũi, gãy xương chính mũi: Chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ không rõ, khả năng do vật tày gây ra.
- Sây sát da vùng gò má trái, gãy cung tiếp gò má trái: khả năng do vật tày tác động theo hướng từ trước ra sau gây ra (Bút lục số 138-139).
Tại Kết luận định giá tài sản số 130 ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng tỉnh Bình Dương xác định thiệt hại và hư hỏng của xe mô tô hai bánh, hiệu Daehan Wave, biển số 66M1-7474 là 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) (Bút lục số 141).
- Đối với xe mô tô hiệu Daehan Wave, biển số 66M1-7474 xét thấy không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn T.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 59X3-535.93 do L2 điều khiển chở T3 và Thanh T2 đến hiện trường để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do bà Vũ Thị T5, sinh năm 1959, nơi cư trú: B, đường B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (bà ngoại của Thanh T2) là chủ sở hữu. Quá trình điều tra, việc bị can Thanh T2 sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, bà T5 không biết nên không thu giữ.
- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Nozza, biển số 61D1-967.04, Q sử dụng để chở H2 và K đến hiện trường để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do ông Nguyễn Ngọc Ả, sinh năm 1969, nơi cư trú: 30/1, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (cha ruột của Nguyễn Minh Q) là chủ sở hữu. Quá trình điều tra, việc bị can Q sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, ông Ả không biết nên nên không thu giữ.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, biển số 59X3-384.73, P1 sử dụng để chở H1 đến hiện trường để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên của ông Trương Ngọc H3, sinh năm 1969, nơi cư trú: 12B, C/C Lô B, đường Đ, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (là cha dượng của bị can K) là chủ sở hữu. Quá trình điều tra, việc các bị can sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, ông H3 không biết nên không thu giữ.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave (không rõ biển số) do V điều khiển chở Đ1, Thanh T4 đến hiện trường. Quá trình điều tra, Đ1 khai nhận ngày 02/8/2022 Đ1 mượn xe mô tô trên của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở chợ Đ2, Thành phố Hồ Chí Minh làm phương tiện đi lại. Sau khi phạm tội, Đ1 đã trả lại xe mô tô trên nên không thu giữ.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Dream (không rõ biển số) do P2 điều khiển đến hiện trường. Quá trình điều tra, P2 khai nhận ngày 02/8/2022 P2 mượn xe mô tô trên của một người bạn tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) làm phương tiện đi lại. Sau khi phạm tội, P2 đã trả lại xe mô tô trên nên không thu giữ.
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại Đông yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích với tổng số tiền là 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là 106.500.000₫ ( một trăm lẻ sáu triệu năm trăm nghìn đồng) cụ thể như sau:
- + Gia đình của bị cáo P1 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng).
- + Gia đình của bị cáo H1 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng).
- + Gia đình của bị cáo Thanh T2 và Thanh T4 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 16.500.000đ (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
- + Gia đình của bị cáo Q đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo K1 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo Đ1 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 12.000.000đ (mười hai triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo V đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 6.000.000₫ (sáu triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo T3 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo L2 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo K đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo H3 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- + Gia đình của bị cáo P2 đã bồi thường cho bị hại Đ với tổng số tiền là: 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2024//HS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương :
- Tuyên bố các bị cáo: Trần Nguyễn Đăng K, Nguyễn Minh Q, phạm tội "Giết người" (chưa đạt).
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2, khoản 3 Điều 54; Điều 57; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Đăng K 5 (năm) năm tù về tội “Giết người” (chưa đạt). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án và được khấu trừ thời gian tạm giam kể từ ngày 14/11/2023 đến ngày 06/02/2024.
- Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57, 58; Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:bị cáo Nguyễn Minh Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” (chưa đạt). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án và được khấu trừ thời gian tạm giam kể từ ngày 09/12/2022 đến ngày 14/7/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và xử phạt các bị cáo: Cao Thành Đ1 09 năm tù, bị cáo Nguyễn Quốc H1 07 năm tù, bị cáo Phan Quốc T3 07 năm tù, bị cáo Huỳnh Ngọc H2 07 năm tù, bị cáo Nguyễn Trọng V1 06 năm tù, bị cáo Đoàn Nguyễn Thiên P1 05 năm 06 tháng tù, bị cáo Phạm Lê Anh T6 05 năm 6 tháng tù, bị cáo Phạm Lê Thành T7 04 năm 6 tháng tù, bị cáo Nguyễn Trọng L2 03 năm 6 tháng tù, bị cáo Nguyễn Minh P2 03 năm tù, bị cáo Phạm Quốc K1 04 năm tù; đồng thời còn tuyên về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xử sơ thẩm:
Cùng ngày 09/10/2024, các bị cáo Nguyễn Minh Q, Trần Nguyễn Đăng K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Luật sư bào chữa cho rằng Tòa cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Q, K phạm tội giết người là chưa phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án như: hành vi, vai trò và ý thức tước đoạt mạng sống của bị hại. Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử các bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Quá trình điều tra đã có đủ cơ sở kết luận 2 bị cáo đồng phạm giúp sức về tội giết người chưa đạt; mức án mà Tòa sơ thẩm áp dụng cho 02 bị cáo là tương xứng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Q và bị cáo Trần Nguyễn Đăng K, thấy rằng:
[1.1] Về tội danh:
Khoảng 22 giờ ngày 02/8/2022, bị cáo Cao Thành Đ1 cho rằng bị nhóm của Nguyễn Hữu C khiêu khích, thách thức đánh nhau nên Đ1 và Nguyễn Trọng V rủ các bị cáo trong đó có Nguyễn Minh Q, Trần Nguyễn Đăng K... đi tìm nhóm C để đánh thì tất cả đồng ý. Vỷ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave chở Đ1, Thanh T4 (cầm theo 01 viên gạch ống và 03 khúc gỗ), P1 chở H1 (cầm 01 khúc gỗ và 01 viên gạch ống), L2 chở T3, Thanh T2 (cầm 01 khúc gỗ, 01 viên gạch ống), Q điều khiển xe mô tô hiệu Y, biển số 61D1-967.04 chở H2, K (cầm 01 khúc gỗ), Duy B chở K1 (cầm 01 khúc gỗ), P2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream (không rõ biển số) đi đánh nhóm của C...
Tại nhà trọ 128/4 đường B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì Q, L2, P1, V, P2,T2, K đứng cảnh giới và giữ xe mô tô ở cổng; còn tại hành lang nhà trọ, Đ1, H1, T4, K1, H2, T3, B dùng khúc gỗ đánh trúng vào đầu, mặt của anh Võ Đông Đ gây vết thương đầu vùng đỉnh – thái dương phải, gãy xương chính mũi, gãy cung tiếp gò mái trái; Theo kết luận giám định thì bị hại Đ bị tỷ lệ thương tích 20%.
Như vậy, hành vi của các bị cáo dùng dùng cây gỗ (là hung khí nguy hiểm) đánh nhiều cái vào vùng đầu là vùng trọng yếu cơ thể của bị hại Đ (có thể gây chết người), chỉ vì khiêu khích, thách thức (mâu thuẫn nhỏ nhặt) là hành vi có tính chất côn đồ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại.
Cấp sơ thẩm kết án các bị cáo phạm tội “Giết người” chưa đạt theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Việc các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo cho rằng không có ý thức tướt đoạt mạng sống bị hại nên chỉ phạm tội cố ý gây thương tích là không có cơ sở chấp nhận.
[1.2] Về mức hình phạt:
Tội phạm các bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 12 năm, 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tột mang tính chất đồng phạm giản đơn, tự bộc phát, không có sự tổ chức, phân công vai trò cụ thể. Án sơ thẩm đã cân nhắc xem xét đến vai trò của các bị cáo trong vụ án, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt đối với Trần Nguyễn Đăng K 5 năm tù, Nguyễn Minh Q 3 năm 06 tháng tù (chưa thành niên) là tương xứng với tính chất, vai trò, hậu quả do hành vi phạm tôi của các bị cáo gây ra; đảm bảo nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt và người phạm tội dưới 18 tuổi.
[2]. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để cấp phúc thẩm xem xét.
Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Trần Nguyễn Đăng K, Nguyễn Minh Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Nguyễn Đăng K, Nguyễn Minh Q phạm tội "Giết người" (chưa đạt).
- Về hình phạt:
- Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2, khoản 3 Điều 54; Điều 57; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Đăng K 5 (năm) năm tù về tội “Giết người” (chưa đạt). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án và được khấu trừ thời gian tạm giam kể từ ngày 14/11/2023 đến ngày 06/02/2024.
- Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57, 58; Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” (chưa đạt). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án và được khấu trừ thời gian tạm giam kể từ ngày 09/12/2022 đến ngày 14/7/2023.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Nguyễn Đăng K, Nguyễn Minh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao (1);
- VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
- TAND tỉnh Bình Dương (3);
- VKSND tỉnh Bình Dương (1);
- Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương (1);
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (1);
- Công an tỉnh Bình Dương (1);
- Bị cáo (2);
- Lưu VP, HS.19b.ĐLN.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 147/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người - chưa đạt)
- Số bản án: 147/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người - chưa đạt)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Trần Nguyễn Đăng K, Nguyễn Minh Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh D.
