|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 147/2024/HS-ST Ngày 12-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhật Chiến.
Bà Hà Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Hồng và ông Phạm Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/TB-TA ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với:
- Các bị cáo:
-
Phạm Lê H1 (tên gọi khác không), sinh ngày 09 tháng 8 năm 1980 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 18/2/2021; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, đường C, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Số B đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 14/5/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quốc T, sinh năm 1955; con bà Lê Thị T1, sinh năm 1957; có vợ là Nguyễn Bích T2, sinh năm 1982 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 2465/QĐ-CAT-PX01 ngày 14/5/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1393-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/5/2024 cho đến nay. Có mặt.
-
Chu Minh L (tên gọi khác không), sinh ngày 05 tháng 02 năm 1992 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 11/8/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số F ngõ C, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 04/4/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Minh L1, đã chết; con bà: Hoàng Thị M, sinh năm 1968; có vợ là Đào Hồng O, sinh năm 1997; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 1610/QĐ-CAT-PX01 ngày 04/4/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1394-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
-
Đỗ Anh T3 (tên gọi khác không), sinh ngày 09 tháng 12 năm 1995 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 11/8/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số E, đường L, phường V, thành phố L, Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 04/4/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hùng C, sinh năm 1961; con bà: Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1964; có vợ là Phạm Phương T4, sinh năm 2003; con có 01 con sinh ngày 14/8/2024; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 1612/QĐ-CAT-PX01 ngày 04/4/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1396-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
-
Nông Thanh P (tên gọi khác không), sinh ngày 22 tháng 7 năm 1991 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 11/8/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Số H, ngõ E, đường B, phường Đ, TP L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 04/4/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Đình T5, sinh năm 1949; con bà: Lương Thị T6, sinh năm 1951; có vợ là Hoàng Trúc L2, sinh năm 1996; con: Có 02 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 1613/QĐ-CAT-PX01 ngày 04/4/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1395-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
-
Ma Trung N (tên gọi khác không), sinh ngày 26 tháng 9 năm 1994 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 12/3/2021; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số B, đường P, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 04/4/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ma Văn C1, sinh năm 1960; con bà: Trần Thị H3, sinh năm 1967; có vợ là Phạm Thị Thu H4, sinh năm 1994; con: Có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 1611/QĐ-CAT-PX01 ngày 04/4/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1397-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
-
Nguyễn Chí H5 (tên gọi khác không), sinh ngày 07 tháng 7 năm 1996 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 12/8/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số C, đường L (khối F), phường V, TP L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 04/4/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H6, sinh năm 1971; con bà: Hoàng Thị T7, sinh năm 1974; có vợ là Trần Việt H7, sinh năm 1996; con: Có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 1614/QĐ-CAT-PX01 ngày 04/4/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1398-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
-
Hứa Thiện V (tên gọi khác không), sinh ngày 09 tháng 3 năm 1974 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cấp ngày 10/8/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số A, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 04/4/2024); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hứa Xuân D, sinh năm 1952; con bà: Nông Thị N1, sinh năm 1951; có vợ là: Đồng Sen H8, sinh năm 1975; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, đã bị xử lý kỷ luật theo Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 1615/QĐ-CAT-PX01 ngày 04/4/2024 của Giám đốc Công an tỉnh L, hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1392-QĐ/TU ngày 17/7/2024 của Ban Thường vụ Thành uỷ Lạng Sơn. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Ông Nguyễn Hữu T8, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A, đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Bùi Quang N2, sinh năm 1976, địa chỉ: Số A, đường T, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Nông Văn D1, sinh năm 1988, địa chỉ: Số A, đường P, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Đỗ Văn N3, sinh năm 1973, địa chỉ: Số A, đường H, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Hoàng Ngọc T9, sinh năm 1991, địa chỉ: Số H, đường T, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Trần Hữu T10, sinh năm 1998, địa chỉ: Số A, đường C, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Nông Đức L3, sinh năm 1987, địa chỉ: Số F, đường Đ, khối H, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Lành Xuân D2, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1996, địa chỉ: Số B, ngõ I, đường C, khối D, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Chị Nguyễn Thị Tuyết T11, sinh năm 1988, địa chỉ: K, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Lương Ngọc K, sinh năm 1980, địa chỉ: Số A, ngõ H, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Nguyễn Xuân K1, sinh năm 1973, địa chỉ: Đường Q, C, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Lý Văn D3, sinh năm 1992, địa chỉ: Tổ A, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Lê Sơn H9, sinh năm 1965, địa chỉ: Số F, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Vi Công H10, sinh năm 1987, địa chỉ: Số C, đường T, thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Bà Nguyễn Thị H11, sinh năm 1976, địa chỉ: Số F, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Phạm Tuấn Đ, sinh năm 1990, địa chỉ: Số A, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn
-
Anh Nông Văn H12, sinh năm 2005, địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn
-
Chị Phùng Như N4, sinh năm 2006, địa chỉ: Tổ B, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 11/2023, Tổ công tác Thanh tra Bộ C2 phối hợp với Cục C3, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C4 tiến hành thanh tra một số mặt công tác của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tại một số đơn vị thuộc Công an tỉnh L. Qua thanh tra phát hiện Phạm Lê H1, Đội trưởng Đ (C5) Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; Chu Minh L, Phó Đội trưởng phụ trách xử lý tai nạn giao thông, cùng Đỗ Anh T3, Nông Thanh P, Ma Trung N, Nguyễn Chí H5 và Hứa Thiện V là các cán bộ, chiến sỹ Đội CSGT-TT vì vụ lợi và động cơ cá nhân khác, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao trong công tác chỉ đạo, điều tra, giải quyết tai nạn giao thông, làm trái quy định của pháp luật, hoán đổi lỗi và phương tiện vi phạm trong 04 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn thành phố L từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, xâm hại đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan, tổ chức và gây thiệt hại về tài sản cho Nhà nước tổng số tiền 113.700.000đ (một trăm mười ba triệu bảy trăm ngàn đồng). Cụ thể như sau:
-
Vi phạm trong giải quyết vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 24/3/2023 (Vụ TNGT thứ nhất)
-
Vi phạm trong giải quyết vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 17/4/2023 (Vụ TNGT thứ 2)
-
Vi phạm trong giải quyết vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 04/7/2023 (Vụ TNGT thứ 3)
-
Vi phạm trong giải quyết vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 21/7/2023 (Vụ TNGT thứ 4)
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, tại đường T, phường C, thành phố L xảy ra vụ tai nạn giao thông (TNGT) giữa xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 12C - 097.83, nhãn hiệu Dongben do anh Lương Ngọc K điều khiển với xe ô tô BKS 12A-115.76, nhãn hiệu Toyota Yaris màu trắng do chị Nguyễn Thị Tuyết T11 điều khiển. Hậu quả 02 phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Đội phó Chu Minh L phân công Tổ công tác gồm: Nông Văn D1 làm Tổ trưởng cùng Đỗ Anh T3, Đỗ Văn N3 và Hoàng Ngọc T9 đến hiện trường giải quyết. Tại hiện trường, Nông Văn D1 phân công Đỗ Anh T3 vẽ sơ đồ hiện trường vụ va chạm, anh Hoàng Ngọc T9 đo hiện trường, thu thập dấu vết, anh Đỗ Văn N3 đo nồng độ cồn đối với hai lái xe. Kết quả đo nồng độ cồn xác định anh Lương Ngọc K có nồng độ cồn trong hơi thở là 0.402 miligam/1 lít khí thở.
Sáng ngày 25/3/2023, Đỗ Anh T3 được Đội phó Chu Minh L phân công thụ lý giải quyết vụ việc, Đỗ Anh T3 soạn tin nhắn thể hiện về thời gian, địa điểm, người, phương tiện liên quan vụ TNGT gửi lên nhóm Zalo “Tai nạn - Tuyên truyền” để báo cáo chỉ huy Đội, đồng thời ghi thông tin vụ tai nạn vào “Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông không báo cáo” với mục đích không báo cáo vụ việc TNGT nêu trên lên hệ thống báo cáo của Cục C3, Bộ C2.
Sau khi anh Lương Ngọc K và chị Nguyễn Thị Tuyết T11 tự thỏa thuận giải quyết việc bồi thường và có Bản cam kết thỏa thuận tự bồi thường, anh Lương Ngọc K gọi điện cho anh Đặng Văn D4, để nhờ hỗ trợ giải quyết vụ tai nạn. Do có mối quan hệ với Nguyễn Chí H5 là cán bộ Đội CSGT-TT, anh Đặng Văn D4 đã gọi điện cho Nguyễn Chí H5 nhờ giúp đỡ. Nguyễn Chí H5 đồng ý và xin ý kiến của Chu Minh L về việc giảm nhẹ lỗi cho anh Lương Ngọc K. Lập báo cáo Phạm Lê H1 và được Phạm Lê H1 đồng ý cho giảm nhẹ mức phạt đối với anh Lương Ngọc K. Chu Minh L đã chỉ đạo Đỗ Anh T3, lập biên bản vi phạm hành chính lỗi điều khiển ô tô vi phạm nồng độ cồn của anh Lương Ngọc K sang lỗi điều khiển xe máy điện. Đỗ Anh T3 có gọi điện báo cáo Phạm Lê H1 về việc Chu Minh L chỉ đạo xử lý giảm nhẹ lỗi vi phạm nồng độ cồn của anh Lương Ngọc K và được Phạm Lê H1 chỉ đạo thực hiện theo ý kiến của Chu Minh L.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của chỉ huy Đội, Đỗ Anh T3 đã lập hồ sơ vi phạm hành chính hoán đổi lỗi vi phạm của anh Lương Ngọc K từ lỗi “Điều khiển xe ô tô trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở” trong vụ tai nạn giao thông, với mức phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng, hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (Nghị định 100/2019/NĐ-CP) của Chính phủ, thành lỗi vi phạm “Điều khiển xe máy điện trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở” có mức phạt tiền thấp hơn, từ 6 triệu đồng đến 8 triệu đồng theo quy định tại điểm e khoản 8 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.
Để hợp thức hồ sơ, Đỗ Anh T3 gọi điện cho Đỗ Văn N3, thành viên Tổ công tác để lấy thông tin chiếc xe máy điện BKS 12MĐ1-041.32 đăng ký tên anh Phan Văn Đ1, sinh năm 1984, địa chỉ số H H, phường C, thành phố L làm phương tiện để đưa vào biên bản xử phạt vi phạm hành chính thay thế cho lỗi vi phạm nồng độ cồn của anh Lương Ngọc K để anh Lương Ngọc K ký tên vào các Biên bản Đỗ Anh T3 đã soạn sẵn và thông báo lỗi vi phạm, mức tiền đóng phạt 07 triệu đồng.
Trên cơ sở hồ sơ vi phạm hành chính nêu trên, ngày 03/4/2023, ông Bùi Quang N2, Phó Trưởng Công an thành phố L đã ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Lương Ngọc K về lỗi vi phạm “Điều khiển xe máy điện BKS 12MĐ1-041.32 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở”, mức tiền phạt 07 triệu đồng. Anh Lương Ngọc K đã nộp đủ số tiền phạt 07 triệu đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Sau khi thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 có Văn bản số 841/VPCQCSĐT-P3 kiến nghị Trưởng Công an thành phố L huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Lương Ngọc K trong vụ việc nêu trên. Ngày 22/3/2024, Trưởng Công an thành phố L ban hành Quyết định số 528/QĐ-HB hủy bỏ Quyết định xử phạt hành chính ngày 03/4/2023 đối với anh Lương Ngọc K. Ngày 16/5/2024, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 56/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với anh Lương Ngọc K số tiền 35 triệu đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn 23 tháng. Ngày 15/5/2024, anh Lương Ngọc K đã thực hiện xong quyết định xử phạt hành chính nêu trên.
Như vậy trong vụ việc xử lý vi phạm giao thông này, các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L, Đỗ Anh T3 vì động cơ cá nhân, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm trái công vụ, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 28 triệu đồng (mức phạt 35 triệu đồng với lỗi điều khiển ô tô so với mức phạt 07 triệu đồng với lỗi điều khiển xe máy điện).
Khoảng 16 giờ ngày 17/4/2023, tại đường B, phường H, thành phố L xảy ra vụ TNGT giữa xe ô tô bán tải nhãn hiệu TOYOTA, BKS QB-3195 do ông Nguyễn Xuân K1, sinh năm 1973, Quân nhân Đồn Biên phòng Cửa khẩu T13, tỉnh Lạng Sơn điều khiển với xe ô tô BKS 12A-065.80 do anh Lý Văn D3, sinh năm 1992, trú tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn điều khiển. Hậu quả hai xe ô tô bị hư hỏng.
Ca trực thuộc Đội CSGT-TT gồm Nông Văn D1, Tổ trưởng, cùng Hoàng Ngọc T9, Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P đến hiện trường để giải quyết ban đầu vụ TNGT. Sau đó, Chu Minh L và anh Hoàng Hoa T12, Phó Đội trưởng, trực tiếp đến hiện trường, chỉ đạo. Tại hiện trường, Nông Văn D1 phân công Ma Trung N vẽ sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, Hoàng Ngọc T9 đo nồng nộ cồn đối với hai lái xe. Kết quả đo nồng độ cồn xác định ông Nguyễn Xuân K1 trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,424 miligam/1 lít khí thở. Hoàng Ngọc T9 in phiếu kiểm tra nồng độ cồn, viết thông tin về phương tiện và người điều khiển, hai bên ký xác nhận vào phiếu đo nồng độ cồn.
Ma Trung N được phân công trực tiếp thụ lý, giải quyết vụ TNGT, N gửi tin nhắn lên nhóm Zalo “Tai nạn - Tuyên truyền” của Đội về nội dung vụ TNGT và chụp Phiếu đo nồng độ cồn của ông Nguyễn Xuân K1 gửi lên nhóm Z “Cồn” để báo cáo chỉ huy Đội và ghi thông tin vụ tai nạn vào “Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông không báo cáo” với mục đích để không báo cáo vụ việc giao thông trên hệ thống báo cáo của Cục C3, Bộ C2.
Quá trình giải quyết vụ TNGT, Phạm Lê H1 khai nhận do có sự chỉ đạo của ông Nguyễn Hữu T8, nguyên Trưởng Công an thành phố L nên Phạm Lê H1 đã chỉ đạo Ma Trung N thay thế lỗi điều khiển xe ô tô có vi phạm nồng độ cồn của ông Nguyễn Xuân K1 thành lỗi điều khiển xe đạp điện để giảm nhẹ mức phạt đối với ông Nguyễn Xuân K1. Ma Trung N đã sử dụng thông tin xe đạp điện của chị Ma Hồng H13 (là em gái N) để lập hồ sơ vi phạm hành chính hoán đổi lỗi vi phạm của ông Nguyễn Xuân K1 từ lỗi “Điều khiển xe ô tô trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở” trong vụ tai nạn giao thông, với mức phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng, hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP thành lỗi vi phạm “Điều khiển xe đạp điện số máy 180301815 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở”, có mức phạt tiền thấp hơn, từ 400 nghìn đồng đến 600 nghìn đồng, quy định tại điểm c khoản 4 Điều 8 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.
Quá trình giải quyết vụ TNGT, ông Nguyễn Xuân K1 đưa 1.500.000 đồng nhờ Ma Trung N nộp phạt và bồi dưỡng cho Tổ công tác. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, ngày 25/4/2023, ông Bùi Quang N2, Phó Trưởng Công an thành phố L ký Quyết định xử phạt hành chính đối với ông Nguyễn Xuân K1 500.000 đồng với lỗi vi phạm “Điều khiển xe đạp điện trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở”. Ngày 22/5/2023, Ma Trung N đã thực hiện nộp phạt số tiền 500.000 đồng thay cho anh K1. Số tiền 01 triệu đồng còn lại do ông Nguyễn Xuân K1 đưa, Ma Trung N xin ý kiến Chu Minh L và được Chu Minh L chỉ đạo giữ lại sử dụng chung của ca trực.
Ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 có Văn bản số 841/VPCQCSĐT-P3 kiến nghị Trưởng Công an thành phố L huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Xuân K1 trong vụ việc nêu trên. Ngày 22/3/2024, Trưởng Công an thành phố L ban hành Quyết định số 527/QĐ-HB hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Xuân K2. Ngày 12/4/2024, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 45/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với ông Nguyễn Xuân K1 số tiền 35 triệu đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe đến hết ngày 05/7/2025. Ngày 22/4/2024, anh Nguyễn Xuân K1 đã thực hiện xong quyết định xử phạt hành chính nêu trên.
Như vậy trong vụ việc xử lý vi phạm giao thông này, các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L, Ma Trung N vì vụ lợi và động cơ cá nhân, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm trái công vụ, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 34,5 triệu đồng (mức phạt 35 triệu đồng với lỗi điều khiển ô tô so với mức phạt 500 nghìn đồng với lỗi điều khiển xe đạp điện), trong đó Ma Trung N nhận 01 triệu đồng để đưa vào sử dụng chung của ca trực.
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 04/7/2023, tại số F đường T, xã H thành phố L xảy ra vụ TNGT giữa xe ôtô BKS 12A-175.83 do ông Lê Sơn H9, sinh năm 1965, là cán bộ Chi cục thuế huyện V, tỉnh Lạng Sơn điều khiển với xe ô tô BKS 12A-124.55 đang đỗ ở lề đường của anh Vi Công H10, sinh năm 1987, địa chỉ 3 T, thôn H, xã H, thành phố L, làm xe ô tô của anh Vi Công H10 bị đẩy về phía trước, va chạm tiếp với hai xe mô tô đang đỗ phía trước. Hậu quả cả 04 xe đều bị hư hỏng.
Đội phó Chu Minh L phân công Tổ công tác gồm Nông Thanh P, Trần Hữu T10, Đỗ Anh T3 đến hiện trường giải quyết ban đầu vụ TNGT. Đỗ Anh T3 tổ chức, phân luồng giao thông khu vực xảy ra tai nạn, hỗ trợ cùng với Trần Hữu T10 đo hiện trường; Nông Thanh P trực tiếp ghi số liệu, vẽ sơ đồ hiện trường và tiến hành đo nồng độ cồn ông Lê Sơn H9, kết quả ông Lê Sơn H9 có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,469 miligam/lít khí thở. Tổ công tác in phiếu đo nồng độ cồn yêu cầu ông Lê Sơn H9 ký xác nhận nhưng ông Lê Sơn H9 không ký mà gọi điện thoại cho vợ là Nguyễn Thị H11 đến để thay ông Lê Sơn H9 giải quyết vụ việc.
Nông Thanh P được Chu Minh L giao trực tiếp thụ lý, giải quyết vụ TNGT. P gửi tin nhắn lên nhóm Zalo “Tai nạn - Tuyên truyền” của Đội về nội dung vụ TNGT để báo cáo chỉ huy Đội và ghi thông tin vụ tai nạn vào “Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông không báo cáo” với mục đích để không báo cáo vụ việc giao thông trên hệ thống báo cáo của Cục C3, Bộ C2.
Trong quá trình giải quyết vụ TNGT, Nông Thanh P mời bà Nguyễn Thị H11 và các bên liên quan đến làm việc, giữa bà Nguyễn Thị H11 và chủ các phương tiện bị tai nạn thống nhất tự giải quyết và ký Bản cam kết. Do biết lỗi vi phạm của ông Lê Sơn H9 có mức phạt từ 30 triệu đến 40 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng, nên bà Nguyễn Thị H11 đã đặt vấn đề với Nông Thanh P xin giảm nhẹ mức phạt xuống dưới mức 17 triệu đồng. Nông Thanh P đã báo cáo Chu Minh L, Phó Đội trưởng cho giảm mức phạt theo đề nghị của bà Nguyễn Thị H11. Chu Minh L báo cáo xin ý kiến Phạm Lê H1 và được Phạm Lê H1 đồng ý cho giảm mức phạt và Chu Minh L thông báo lại cho Nông Thanh P biết Phạm Lê H1 đã đồng ý.
Theo chủ trương của Chỉ huy Đội, Nông Thanh P lấy các mẫu Biên bản giải quyết TNGT đưa và hướng dẫn cho bà Nguyễn Thị H11 ký tên “H9” và ghi họ tên “Lê Sơn H9” vào các biên bản. Sau đó bà Nguyễn Thị H11 đưa cho Nông Thanh P 17 triệu đồng, Nông Thanh P nhận và báo cáo đưa số tiền trên cho Chu Minh L. Khoảng 02 ngày sau, Chu Minh L đưa lại cho Nông Thanh P 07 triệu đồng. Nông Thanh P đến cửa hàng xe máy của anh Nông Văn H14 ở số nhà E đường T, phường H, thành phố L mua 01 xe mô tô BKS 12F5- 5804, kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe để Nông Thanh P đem đến Bến xe phía Nam làm thủ tục tạm giữ để thay thế thông tin xe vi phạm trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Nông Thanh Phúc điền thông tin biển kiểm soát phương tiện vi phạm vào Phiếu đo nồng độ cồn, Biên bản vi phạm hành chính do bà Nguyễn Thị H11 đã ký sẵn, lập hồ sơ vi phạm hành chính chuyển cho tổ xử lý vi phạm hành chính của Đội để trình ông Bùi Quang N2, Phó Trưởng Công an thành phố L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 9.400.000 đồng đối với ông Lê Sơn H9.
Số tiền 10 triệu đồng còn lại của bà Nguyễn Thị H11, Chu Minh L đưa cho Phạm Lê H1, Phạm Lê H1 giữ lại 05 triệu đồng chi tiêu cá nhân, còn lại 05 triệu đồng, Phạm Lê H1 đưa cho Chu Minh L để bồi dưỡng cho cán bộ trong tổ giải quyết vụ việc. Chu Minh L đưa cho Nông Thanh P 02 triệu đồng, hai thành viên tổ công tác còn lại là Đỗ Anh T3 và Trần Hữu T10 trong thời gian này đang đi công tác, nên số tiền còn lại 03 triệu đồng, Chu Minh L sử dụng chi tiêu cá nhân.
Ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 có Văn bản số 841/VPCQCSĐT-P3 kiến nghị Trưởng Công an thành phố L huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Sơn H9 trong vụ việc nêu trên. Ngày 22/3/2024, Trưởng Công an thành phố L ban hành Quyết định số 526/QĐ-HB hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 12/7/2023 đối với ông Lê Sơn H9. Ngày 12/4/2024, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 44/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với ông Lê Sơn H9 số tiền 35 triệu đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn 23 tháng. Ngày 19/4/2024, ông Lê Sơn H9 đã thực hiện xong quyết định xử phạt hành chính.
Như vậy trong vụ việc xử lý vi phạm giao thông này, các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L, Nông Thanh P vì vụ lợi, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm trái công vụ, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 25,6 triệu đồng (mức phạt 35 triệu đồng với lỗi điều khiển ô tô so với mức phạt 9,4 triệu đồng với lỗi điều khiển xe mô tô). Trong đó Phạm Lê H1 hưởng lợi 05 triệu đồng, Chu Minh L hưởng lợi 03 triệu đồng, Nông Thanh P hưởng lợi 02 triệu đồng.
Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 21/7/2023, tại đoạn đường thuộc phường C, TP L xảy ra vụ TNGT giữa xe ô tô BKS 12A - 036.99 do anh Phạm Tuấn Đ là cán bộ UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn điều khiển với xe mô tô BKS 12B1 - 193.20 do anh Nông Văn H12, sinh năm 2005, địa chỉ xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn điều khiển chở theo chị Phùng Như N4. Hậu quả: 02 xe bị hư hỏng, chị Phùng Như N4 và anh Nông Văn H12 bị thương.
Ca trực gồm Nông Đức L3, Tổ trưởng cùng Nguyễn Chí H5, Lành Xuân D2, Hứa Thiện V, Hoàng Văn B đến hiện trường để giải quyết ban đầu vụ TNGT. Tại hiện trường, Hứa Thiện V và Lành X tiến hành đo dấu vết, xác định thông tin người liên quan vụ tai nạn, người làm chứng và chụp ảnh hiện trường vụ tai nạn; Nguyễn Chí H5 thực hiện việc khám nghiệm, vẽ sơ đồ hiện trường, Hoàng Văn B kiểm tra nồng độ cồn người điều khiển phương tiện. Kết quả đo nồng độ cồn xác định anh Phạm Tuấn Đ là 0.820 miligam/1 lít khí thở.
Sáng ngày 21/7/2023, Nguyễn Chí H5 và Hứa Thiện V là người được phân công thụ lý giải quyết vụ TNGT. H5 soạn tin nhắn, nội dung vụ việc và chụp ảnh phiếu đo nồng độ cồn của anh Phạm Tuấn Đ gửi vào nhóm Z “Tai nạn - Tuyên truyền” và nhóm “Cồn” để báo cáo chỉ huy Đội và ghi thông tin vụ tai nạn vào “Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông không báo cáo” với mục đích để không báo cáo vụ việc giao thông trên hệ thống báo cáo của Cục C3, Bộ C2.
Do anh Phạm Tuấn Đ có quen biết với Chu Minh L từ khi L làm việc tại Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nên đã nhờ Chu Minh L xin được giải quyết nhanh và mức xử lý nhẹ. Chu Minh L xin ý kiến Đội trưởng Phạm Lê H1 đề nghị giảm nhẹ lỗi vi phạm và được Phạm Lê H1 đồng ý.
Thực hiện theo sự chỉ đạo của Chu Minh L, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V đã hợp thức hồ sơ xử lý, thay đổi lỗi vi phạm của anh Phạm Tuấn Đ từ điều khiển ô tô sang điều khiển xe mô tô để giảm nhẹ mức tiền phạt. Nguyễn Chí H5 thông báo để anh Phạm Tuấn Đ mang xe mô tô đến để thay thế, làm thủ tục xử phạt. Anh Phạm Tuấn Đ đã đến khu đô thị P, thành phố L mua 01 xe mô tô cũ BKS 99V1-5631 (không có giấy tờ) của một người không rõ lai lịch với giá hơn 06 triệu đồng đem đến trụ sở Công an thành phố L giao cho Nguyễn Chí H5 làm thủ tục xử phạt. Nguyễn Chí H5 đã sử dụng thông tin xe mô tô do Phạm Tuấn Đ đem đến để hợp thức hồ sơ hoán đổi lỗi vi phạm của anh Phạm Tuấn Đ về hành vi vi phạm “Điều khiển xe mô tô BKS 99V1 - 5631 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; không có giấy phép lái xe; không có đăng ký xe theo quy định”; lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, biên bản niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đưa cho anh Phạm Tuấn Đ ký mục người vi phạm và chuyển cho Hứa Thiện V ký mục người lập biên bản.
Sau khi hoàn thiện các thủ tục, Nguyễn Chí H5 chuyển hồ sơ sang Tổ xử lý vi phạm hành chính trình ông Bùi Quang N2, Phó Trưởng Công an thành phố L ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 31/7/2023, xử phạt anh Phạm Tuấn Đ mức phạt tiền là 9.400.000 đồng, nhưng Phạm Tuấn Đ chưa thi hành Quyết định xử phạt.
Ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 có Văn bản số 841/VPCQCSĐT-P3 kiến nghị Trưởng Công an thành phố L huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Phạm Tuấn Đ trong vụ việc nêu trên. Ngày 22/3/2024, Trưởng Công an thành phố L ban hành Quyết định số 529/QĐ-HB hủy bỏ Quyết định XPHC ngày 31/7/2023 đối với anh Phạm Tuấn Đ. Ngày 15/4/2024, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 46/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với anh Phạm Tuấn Đ số tiền 35 triệu đồng. Ngày 22/4/2024, anh Phạm Tuấn Đ đã thực hiện xong quyết định xử phạt hành chính.
Như vậy trong vụ việc xử lý vi phạm giao thông này, các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V vì động cơ cá nhân, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm trái công vụ, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 25,6 triệu đồng (mức phạt 35 triệu đồng với lỗi điều khiển xe ô tô so với mức phạt 9,4 triệu đồng với lỗi điều khiển xe mô tô).
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 8814/CT-VKSTC-V5 ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hữu T8 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Năm 2023, phân công nhiệm vụ hàng năm thì đồng chí Bùi Quang N2 Phó trưởng công an thành phố được ông phân công phụ trách theo dõi, chỉ đạo các mặt công tác của đội CSGT-TT. Ông không biết và không được chỉ đạo hoán đổi lỗi và phương tiện vi phạm đối với 04 vụ TNGT nêu trên, do công tác lãnh đạo, chỉ đạo nên việc liên lạc điện thoại giữa ông và các cán bộ nhân viên trong đơn vị là thường xuyên và bình thường. Với trách nhiệm của Trưởng công an thành phố do khối lượng công việc nhiều bản thân thiếu kiểm tra trong việc quản lý dẫn đến cán bộ trong C5 thực hiện các hành vi không đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Bùi Quang N2 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Ông được giao nhiệm vụ phụ trách công tác của Đội CSGT-TT nhưng việc vi phạm của các cán bộ nêu trên ông không được biết và không được chỉ đạo, ông thừa nhận đã thiếu trách nhiệm trong quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ trong thực thi công vụ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng làm trong các ca trực với các bị cáo gồm Nông Văn D1, Đỗ Văn N3, Hoàng Ngọc T9, Trần Hữu T10, Hoàng Văn B, Nông Đức L3, Lành Xuân D2 đều trình bày: Các anh được phân công cùng làm hiện trường ban đầu với các bị cáo, sau đó hồ sơ được phân công cho các bị cáo trực tiếp thụ lý và giải quyết, các anh không biết, không nắm được, không được hưởng lợi gì từ hành vi hoán đổi lỗi và phương tiện vi phạm của các bị cáo.
Lời khai có trong hồ sơ vụ án của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là những người va chạm TNGT đều trình bày khi xảy ra va chạm thì có lực lượng Cảnh sát giao thông thành phố đến hiện trường làm việc, có thổi nồng độ cồn, không kiểm tra về ma túy, vẽ sơ đồ hiện trường và tạm giữ phương tiện vi phạm, sau đó người vi phạm đã đề nghị được giảm mức phạt và được chấp thuận, còn việc xử lý hồ sơ và hoán đổi phương tiện, hoán đổi lỗi vi phạm do các cán bộ CSGT thụ lý tự thực hiện đúng như nội dung sự việc đã tóm tắt nêu trên. Về số tiền chị Nguyễn Thị H11 đã đưa cho Nông Thanh P 17.000.000 đồng và anh Nguyễn Xuân K1 đã đưa cho bị cáo Ma Trung N 15.00.000 đồng các anh chị đều đề nghị không lấy lại, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự;
- Về hình phạt:
+ Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 356, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 17, 50, 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Phạm Lê H1 từ 16 tháng đến 18 tháng tù.
Chu Minh L từ 14 tháng đến16 tháng tù.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 356, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 17, 50, 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt:
Đỗ Anh T3 từ 09 tháng đến 11 tháng tù.
Ma Trung N từ 09 tháng đến 11 tháng tù.
Nông Thanh P từ 09 tháng đến 11 tháng tù.
Nguyễn Chí H5 từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
Hứa Thiện V từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về việc áp dụng các biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lời bất chính đối với bị cáo Ma Trung N đã hưởng lợi 01 triệu đồng từ người vi phạm ở vụ TNGT ngày 17/4/2023; truy thu bị cáo Phạm Lê H1 đã hưởng lợi 05 triệu đồng, Chu Minh L hưởng lợi 03 triệu đồng, Nông Thanh P hưởng lợi 02 triệu đồng ở vụ tai nạn giao thông ngày 04/7/2023.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 thẻ sim 0964.888.508 thu của Phạm Lê H1, 01 điện thoại di động Iphne 7 plus kèm theo 01 thẻ sim thu của Đỗ Anh T3, 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 12F5-5804 kèm 01 đăng ký xe mô tô chủ xe Nguyễn Thúy N5; 01 xe máy nhãn hiệu Jiulong, biển kiểm soát 99V1-5631 do liên quan đến hành vi phạm tội.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy chứng minh công an nhân dân mang tên Phạm Lê H1 do không còn giá trị sử dụng.
+ Trả lại 01 chứng chỉ chứng nhận chương trình tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông cho Hứa Thiện V là giấy tờ cá nhân và 01 điện thoại di động Iphone 15 pro max màu Titan cho Phạm Lê H1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc 07 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phần tranh luận cả 07 bị cáo đều không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng 07 bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong đó 16 người vắng mặt đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, riêng anh Lý Văn D3 vắng mặt lần 2 không lý do, phiên tòa đã được mở lần 2, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng và việc thu thập bảo quản tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp. Vụ án không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ điều tra bổ sung.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để xác định: Từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, Phạm Lê H1 là Đội trưởng và Chu Minh L là Đội phó C5 Công an thành phố L; Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V là cán bộ Đội CSGT-TT Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, trong quá trình giải quyết các vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 24/3/2023, 17/4/2023, 04/7/2023 và 21/7/2023 trên địa bàn thành phố L, vì vụ lợi, động cơ cá nhân, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý làm trái công vụ, hoán đổi các lỗi vi phạm của các trường hợp vi phạm giao thông từ hành vi “Điều khiển xe ôtô trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở” với mức phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng, hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng (quy định tại điểm a khoản 10 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP) thành hành vi vi phạm “Điều khiển xe đạp điện, xe máy điện hoặc xe mô tô trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở”, có mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 9.400.000 đồng nhằm giảm mức phạt tiền cho người vi phạm là vi phạm Thông tư số 63/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ C2 về quy trình điều tra, giải quyết TNGT đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông.
[4] Hành vi của Phạm Lê H1, Chu Minh L, Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan Nhà nước. Trong đó hành vi của Phạm Lê H1, Chu Minh L thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã thực hiện hành vi phạm tội trong cả 04 vụ TNGT, gây thiệt hại cho Nhà nước với tổng số tiền 113,7 triệu đồng, Phạm Lê H1 vụ lợi 05 triệu đồng, Chu Minh L vụ lợi 03 triệu đồng; hành vi của các bị cáo còn lại thuộc trường hợp nghiêm trọng, trong đó, hành vi của Đỗ Anh T3 ngày 24/3/2023 đã gây thiệt hại cho Nhà nước 28 triệu đồng; hành vi của Ma Trung N ngày 17/4/2023 đã gây thiệt hại cho Nhà nước 34,5 triệu đồng và vụ lợi 01 triệu đồng; hành vi của Nông Thanh P ngày 04/7/2023 đã gây thiệt hại cho Nhà nước 25,6 triệu đồng và vụ lợi 02 triệu đồng; hành vi của Nguyễn Chí H5 và Hứa Thiện V ngày 21/7/2023 đã gây thiệt hại cho Nhà nước 25,6 triệu đồng.
[5] Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Trong đó, hành vi của bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V được quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự, do đó Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, gây thiệt hại về tài sản Nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của ngành Công an, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội trên địa bàn, gây tâm lý bức xúc, dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ hây thiệt hại cho Nhà nước là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi hoặc do mối quan hệ cá nhân mà bị cáo đã làm trái công vụ, hoán đổi lỗi và phương tiện vi phạm trong các vụ tai nạn giao thông, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý do đó cần xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật.
[7] Để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo đã gây ra.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
[8.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa 07 bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; quá trình công tác trong lực lượng Công an nhân dân G bị cáo đều có thành tích xuất sắc trong công tác, được tặng nhiều lần Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Giấy khen; Bằng khen; Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở; Kỷ niệm chương, Chiến sĩ tiên tiến vì vậy 07 bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8.2] Gia đình 07 bị cáo đều có công với cách mạng, quá trình công tác được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương và có nhiều cống hiến trong quá trình công tác, cụ thể:
-
[8.2.1] Bị cáo Phạm Lê H1 có bố đẻ là cán bộ công an về hưu đã có nhiều cống hiến và được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương (Huân chương chiến công hạng nhất, nhì; Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng ba; Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì) và nhiều Bằng khen, Giấy khen.
-
[8.2.2] Bị cáo Chu Minh L có mẹ đẻ là cán bộ công chức Sở Y tế về hưu có nhiều cống hiến và được Bộ trưởng Bộ Y tặng Kỷ niệm chương Vì sức khỏe nhân dân, Giám đốc Sở y tế tặng Giấy khen.
-
[8.2.3] Bị cáo Đỗ Anh T3 có bố đẻ là cán bộ công an về hưu có nhiều cống hiến và được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương (Huy chương vì an ninh Tổ quốc, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huy hiệu 30 năm tuổi đảng) và nhiều Bằng khen, Giấy khen; Gia đình có công với cách mạng có ông nội được tặng thưởng Kỷ niệm chương của T14, Đoàn Tân trào đơn vị anh hùng; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, mẹ đẻ bị mắc bệnh ung thư có bệnh án điều trị.
-
[8.2.4] Bị cáo Ma Trung N có bố đẻ là cán bộ Công an về hưu có nhiều cống hiến và được tặng thưởng nhiều Huy chương (Huy chương Vì an ninh Tổ quốc; Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba) mẹ đẻ là cán bộ hưu trí Bảo hiểm y tế tỉnh Lạng Sơn có nhiều cống hiến, được Tổng giám đốc B1 và Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh L tặng Giấy khen; có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng ba; ông nội được tặng thưởng Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhất.
-
[8.2.5] Bị cáo Nông Thanh P có có bố đẻ là cán bộ hưu trí nguyên phó Bí thư Huyện ủy huyện V, tỉnh Lạng Sơn có nhiều cống hiến và được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương (Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huy chương vì giai cấp nông dân Việt Nam, Huy chương danh dự Đoàn Thanh niên cộng sản H15, vợ đang công tác trong ngành Công an.
-
[8.2.6] Bị cáo Nguyễn Chí H5 có bố đẻ là cán bộ đang công tác trong ngành công an, có nhiều cống hiến và được tặng thưởng nhiều Huy chương, Bằng khen, Giấy khen (Huy chương vì An ninh Tổ quốc; Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì; Bằng khen, Giấy khen của Bộ trưởng Bộ C2, Chủ tịch UBND tỉnh L, chủ tịch UBND thành phố L). Gia đình liệt sỹ, có công với cách mạng.
-
[8.2.7] Bị cáo Hứa Thiện V có bố đẻ là cán bộ Công an về hưu có nhiều cống hiến, được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất và nhiều Bằng khen. Vợ công tác trong ngành giáo dục được tặng thưởng nhiều Giấy khen, Chiến sĩ thi đua cơ sở, giáo viên dạy giỏi; có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất.
[8.3] Các bị cáo Chu Minh L, Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V tham gia hiến máu tình nguyện.
[8.4] Các bị cáo Chu Minh L, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V là người dân tộc thiểu số.
Nên các bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đều không có.
[10] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy đây là vụ án có tính chất đồng phạm các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L vì vụ lợi đã cố ý làm trái công vụ, một số bị cáo là cán bộ vi phạm theo tính chất cấp dưới thực hiện theo chỉ đạo cấp trên, một số do cả nể nên đã đề xuất lãnh đạo Đội thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử 07 bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và xem xét áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi của từng bị cáo để các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cụ thể:
[11] Bị cáo Phạm Lê H1 tốt nghiệp Học viện A, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là Đội trưởng C5 Công an thành phố L, cấp bậc hàm Trung tá; bị cáo Chu Minh L tốt nghiệp Học viện C6, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là Phó Đội trưởng C5 Công an T, cấp bậc hàm Đại úy, cả hai bị cáo đều có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác Cảnh sát giao thông, nắm rõ các văn bản, Thông tư, Nghị quyết, hướng dẫn, quy định của ngành Công an về quy trình điều tra, giải quyết TNGT, bị cáo Phạm Lê H1 được lãnh đạo giao nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành mọi mặt công tác của C5 Công an thành phố L, có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sỹ trong Đội, bị cáo Chu Minh L được Chỉ huy Đội và lãnh đạo Công an thành phố L giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo công tác điều tra, giải quyết TNGT của Đội CSGT-TT nhưng vì vụ lợi và động cơ cá nhân, hai bị cáo đã không chỉ đạo điều tra, giải quyết các vụ TNGT theo Thông tư 63 mà chỉ đạo cán bộ cấp dưới hoặc đồng ý để cán bộ cấp dưới hoán đổi lỗi và phương tiện vi phạm gây thiệt hại cho Nhà nước 113.700.000 đồng, trong đó bị cáo Phạm Lê H1 hưởng lợi 05 triệu đồng, Chu Minh L hưởng lợi 03 triệu đồng, do đó với vai trò là chủ mưu, cầm đầu nên bị cáo Phạm Lê H1 có mức xử phạt cao hơn bị cáo Chu Minh L với mức gần giữa khung hình phạt nhẹ hơn liền kề là phù hợp với vai trò và tính chất hành vi phạm tội. Đối với các bị cáo là cán bộ thì bị cáo Nông Thanh P chủ động mua xe máy để hoán đổi, Ma Trung N lấy thông tin xe điện của gia đình để hoán đổi phương tiện vi phạm và hai bị cáo đều có được hưởng lợi từ hành vi trái công vụ nên có mức án cao hơn các bị cáo còn lại là Đỗ Anh T3, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V.
[12] Về hình phạt bổ sung, 07 bị cáo đã bị kỷ luật tước danh hiệu Công an nhân dân, khai trừ khỏi Đảng, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[13] Về các biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lời bất chính đối với bị cáo Ma Trung N đã hưởng lợi 01 triệu đồng từ người vi phạm ở vụ TNGT ngày 17/4/2023; truy thu bị cáo Phạm Lê H1 đã hưởng lợi 05 triệu đồng, Chu Minh L hưởng lợi 03 triệu đồng, Nông Thanh P hưởng lợi 02 triệu đồng ở vụ tai nạn giao thông ngày 04/7/2023 để sung ngân sách Nhà nước.
[14] Về xử lý vật chứng: Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 thẻ sim số 0964.888.508 thu của Phạm Lê H1, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus kèm theo 01 thẻ sim thu của Đỗ Anh T3, 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 12F5-5804 kèm 01 đăng ký xe mô tô chủ xe Nguyễn Thúy N5; 01 xe máy nhãn hiệu Jiulong, biển kiểm soát 99V1-5631 do liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy chứng minh công an nhân dân mang tên Phạm Lê H1 do không còn giá trị sử dụng. Trả lại 01 chứng chỉ chứng nhận chương trình tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông cho Hứa Thiện V là giấy tờ cá nhân, trả lại 01 điện thoại di động Iphone 15 pro max màu Titan cho Phạm Lê H1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[15] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc 07 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[16] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nhận thấy:
[16.1] Đối với ông Bùi Quang N2, Phó Trưởng Công an thành phố L đã có hành vi duyệt, ký các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 04 vụ vi phạm nêu trên. Tài liệu điều tra không có căn cứ xác định ông Bùi Quang N2 chỉ đạo, biết cán bộ cấp dưới thực hiện hoán đổi lỗi điều khiển ô tô vi phạm nồng độ cồn sang lỗi điều khiển xe đạp điện, xe máy điện, mô tô. Hành vi của ông Bùi Quang N2 trong 04 vụ tai nạn giao thông với lỗi vô ý, độc lập ở từng vụ việc đơn lẻ với hậu quả từng vụ việc từ 25,6 triệu đồng đến 34,5 triệu đồng. Cơ quan điều tra xác định không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Quang N2, đề nghị xem xét xử lý về Đảng và chính quyền, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[16.2] Đối với ông Nguyễn Hữu T8, nguyên Trưởng Công an thành phố L: Tài liệu điều tra không có căn cứ xác định ông Nguyễn Hữu T8 chỉ đạo cán bộ cấp dưới thực hiện hoán đổi lỗi điều khiển ô tô vi phạm nồng độ cồn sang lỗi điều khiển xe đạp điện, xe máy điện, mô tô. Do vậy, Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn Hữu T8, đề nghị xem xét xử lý về Đảng và chính quyền, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[16.3] Đối với anh Nông Văn D1, Tổ trưởng Tổ công tác giải quyết vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 24/3/2023 và ngày 17/4/2023: Quá trình điều tra xác định anh Nông Văn D1 không biết, không nhận được sự chỉ đạo và không thực hiện việc hoán đổi lỗi, phương tiện vi phạm trong các vụ tai nạn. Vì vậy, không có căn cứ xác định hành vi của Nông Văn D1 đồng phạm với Đỗ Anh T3, Ma Trung N trong việc hoán đổi lỗi, phương tiện vi phạm trong các vụ tai nạn giao thông ngày 24/3/2023 và ngày 17/4/2023, đề nghị xem xét xử lý về Đảng và chính quyền. Quá trình điều tra, anh Nông Văn D1 đã giao nộp cung cấp hình ảnh chụp "Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông không báo cáo" có thông tin 44 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn thành phố L do Cán bộ Đội CSGT-TT Công an thành phố L thụ lý, giải quyết, trái với quy định của ngành Công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với 44 hồ sơ vụ việc tai nạn giao thông nêu trên, chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[16.4] Đối với ông Đỗ Văn N3, anh Hoàng Ngọc T9, anh Trần Hữu T10, anh Hoàng Văn B, anh Nông Đức L3, anh Lành Xuân D2 là thành viên tổ công tác giải quyết các vụ tai nạn giao thông ngày 24/3/2023, 17/4/2023, 04/7/2023 và ngày 21/7/2023 được phân công tham gia vào quá trình giải quyết vụ tai nạn giao thông với nhiệm vụ hỗ trợ, không trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh, tham mưu xử lý vụ việc, không biết, không nhận được sự chỉ đạo và không thực hiện việc hoán đổi lỗi, phương tiện vi phạm trong vụ tai nạn. Vì vậy, không có căn cứ xác định hành vi của Đỗ Văn N3, Hoàng Ngọc T9, Trần Hữu T10, Hoàng Văn B, Nông Đức L3, Lành Xuân D2 đồng phạm với Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V trong việc hoán đổi lỗi, phương tiện vi phạm trong các vụ tai nạn giao thông, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[17] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[18] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[19] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo ý kiến nào phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, ý kiến nào không phù hợp với nhận định nêu trên thì Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh
-
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Lê H1, Chu Minh L phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
-
- Tuyên bố các bị cáo Đỗ Anh T3, Ma Trung N, Nông Thanh P, Nguyễn Chí H5, Hứa Thiện V về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự;
-
Về hình phạt
-
2.1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 17, 50, 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:
-
- Xử phạt bị cáo Phạm Lê H1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024.
-
- Xử phạt bị cáo Chu Minh L 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
-
-
2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 356, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 17, 50, 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:
-
- Xử phạt bị cáo Nông Thanh P 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
-
- Xử phạt bị cáo Ma Trung N 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
-
- Xử phạt bị cáo Đỗ Anh T3 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H5 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
-
- Xử phạt bị cáo Hứa Thiện V 08 (tám)tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
-
-
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
-
- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 thẻ sim số 0964.888.508, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus kèm theo 01 thẻ sim, 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 12F5-5804 kèm 01 đăng ký xe mô tô chủ xe Nguyễn Thúy N5; 01 xe máy nhãn hiệu Jiulong, biển kiểm soát 99V1-5631.
-
- Tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy chứng minh công an nhân dân mang tên Phạm Lê H1.
-
- Trả lại: 01 điện thoại di động Iphone 15pro max màu Titan cho Phạm Lê H1 và 01 chứng chỉ chứng nhận chương trình tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông cho Hứa Thiện V.
-
(Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
-
- Truy thu số tiền thu lời bất chính đối với bị cáo Phạm Lê H1 05 triệu đồng, Chu Minh L hưởng lợi 03 triệu đồng, Nông Thanh P 02 triệu đồng, Ma Trung N 01 triệu đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc 07 bị cáo mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 292; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Huyền |
Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 147/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Lê Huy cùng đồng phạm- Tội lạm dụng chức vụ trong, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
