Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi và bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Huy Duy T – sinh năm: 2001, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn P (đã chết) và bà Lê Thị N – 1970; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/01/2023, bị Công an xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ; Bị tạm giam từ ngày 04/8/2024 đến nay. (có mặt)
  2. Nguyễn Xuân T1 – sinh năm: 1999, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Giang N1 – 1974 và bà Nguyễn Thị H – 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/7/2018, bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” với số tiền 2.500.000đ; Ngày 12/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 07/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 07/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của Bản án sơ thẩm số 81/2020/HSST ngày 07/9/2020 về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 năm 08 tháng tù, chấp hành xong ngày 28/01/2022. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay. (có mặt)
  3. Phạm Võ Ngọc A – sinh năm: 2001, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hoàng A1 – 1972 và bà Võ Thị Minh T2 – 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 29/01/2024, bị Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay. (có mặt)
  4. Nguyễn Minh L – sinh năm: 2001, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ E, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ cửa sắt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh H1 – 1977 và bà Phan Thị Ú – 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 25/7/2023, bị Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Ú – 1984. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng: Chị Trương Thị P1 – 1987. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T1, Trần Huy Duy T, Nguyễn Minh L và Phạm Võ Ngọc A có mối quan hệ bạn bè quen biết ngoài xã hội và là các đối tượng nghiện ma túy.

Khoảng 16 giờ ngày 29/01/2024, T rủ Ngọc A và T1 đến nhà mình tại ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai chơi. Khi vào nhà T, T1 thấy có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã có sẵn một ít ma túy trong nỏ nên xin T sử dụng thì được T đồng ý. Sau đó, T đi lại lấy nỏ ma túy và dùng quẹt gas đốt sử dụng trước rồi đưa cho T1, Ngọc A sử dụng. Khi cả nhóm sử dụng xong thì L đến nhà T chơi và xin sử dụng ma túy cùng nhưng đã hết ma túy nên cả nhóm bàn bạc đi mua ma túy rồi đến quán C tại ấp D, xã P để sử dụng.

Lúc này, L cầm theo một cái nỏ thủy tinh tại nhà T bỏ vào túi quần để mang đến quán cà phê còn T và Ngọc A hùn tiền mua ma túy để sử dụng, T góp 200.000đ còn Ngọc A góp 300.000đ. Lập điều khiển xe mô tô biển số 60AC-000.14 chở Ngọc A đến xã P tìm gặp một đối tượng tên Năm (không xác định được nhân thân, lai lịch) để mua 500.000₫ ma túy về sử dụng. Khi mua được ma túy, Ngọc A chia lại 01 phần ma túy tương đương với 200.000đ cho T rồi cả nhóm đi đến chòi cuối cùng của quán C để sử dụng ma túy. Sau khi gọi nước để uống, L đổ hết nước trong chai nhựa Number 1 và đổ lại trà đá vào chai nước, L và T1 dùng kéo đục 02 lỗ trên nắp chai nhựa để gắn ống hút nhựa làm đầu hút ma túy, gắn 01 nỏ thủy tinh để đựng ma túy. Khi chế xong bộ dụng cụ sử dụng ma túy, T lấy gói ma túy ra và đổ vào trong nỏ dùng quẹt lửa đốt nóng để sử dụng trước rồi đưa cho Ngọc A, T1, L thay phiên nhau sử dụng ma túy được ba lượt thì hết ma túy. T1 và L ngồi chơi một lúc tại quán rồi đi về còn Ngọc A và L tiếp tục lấy ma túy của Ngọc A bỏ vào nỏ để sử dụng hết tại quán. Đến 21 giờ cùng ngày, Công an xã P nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân nên tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, lập biên bản vụ việc.

Công an xã P phối hợp cùng Trạm y tế xã P tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy của Nguyễn Minh L, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Xuân T1 đều cho kết quả dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa loại Number 1, 01 ống hút nhựa, 03 bật lửa.
  • Thu giữ của Phạm Võ Ngọc A: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen;
  • Thu giữ của Nguyễn Minh L: 01 xe mô tô biển số 60AC-000.14; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen.

Tại Kết luận giám định số 328/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra đã làm rõ được các vật chứng thu giữ:

  • 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa loại Number 1, 01 ống hút nhựa, 03 bật lửa là công cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen của Phạm Võ Ngọc A dùng vào mục đích liên lạc để mua ma túy sử dụng.
  • 01 xe mô tô biển số 60AC-000.14, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị Ú (mẹ ruột Nguyễn Minh L), không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho chủ sở hữu.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A và Nguyễn Minh L đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 143/CT-VKSTP-ĐN ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Huy Duy T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm a, b, khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A và Nguyễn Minh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo T; điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo T1, Ngọc A, L. Đề xuất mức án đối với các bị cáo, cụ thể:

  • Trần Huy Duy T: Từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Nguyễn Xuân T1: Từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Phạm Võ Ngọc A: Từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
  • Nguyễn Minh L: Từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Phạm Võ Ngọc A khai nhận số ma túy mà cả nhóm sử dụng mua của một đối tượng tên Năm ngụ xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng tên Năm theo sự mô tả đặc điểm nhận dạng do Ngọc A cung cấp. Tuy nhiên do dữ liệu thông tin ít, không xác định được nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với bà Trương Thị P1 là chủ quán C: Khi các bị cáo đến sử dụng ma túy tại quán thì bà P1 không biết và không đồng ý cho nhóm Ngọc A sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A và Nguyễn Minh L đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Khoảng 16 giờ ngày 29/01/2024, tại nhà của Trần Huy Duy T thuộc ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T có hành vi cung cấp địa điểm, ma túy, công cụ sử dụng cho Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Xuân T1 sử dụng trái phép chất ma túy.

Khoảng 20 giờ ngày 29/01/2024 tại quán C thuộc ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Minh L, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Xuân T1 và Trần Huy Duy T có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy.

Hành vi do các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Minh L đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động sử dụng các chất ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo Trần Huy Duy T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Minh L đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Trong tình hình hiện nay, ma túy đang trở thành vấn nạn của xã hội. Tình trạng mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe nòi giống, nhân cách con người, gây thiệt hại về kinh tế của gia đình cũng như xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác.

[4]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ mức độ tham gia vào tội phạm để cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7]. Về nhân thân: Bị cáo T1 đã nhiều lần bị kết án nhưng đã được xóa án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được xóa việc xử phạt hành chính; các bị cáo Ngọc A và L có tiền sự, bị cáo T đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được xóa việc xử phạt hành chính. Điều này thể hiện các bị cáo đều có nhân thân xấu.

[8]. Về hình phạt:

[8.1]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Cá thể mức hình phạt với các bị cáo về hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau: Căn cứ vào tính chất, mức độ tham gia tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thì hình phạt áp dụng với bị cáo T và bị cáo T1 bằng nhau và cao hơn các bị cáo Ngọc A và L; hình phạt áp dụng đối với các bị cáo Ngọc A và L là bằng nhau và thấp nhất.

[8.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 328/KL-KTHS chứa nỏ thủy tinh sau giám định, 01 chai nhựa (loại nước Number 1), 01 ống hút nhựa, 03 hộp quẹt (01 cái hiệu VIVA màu vàng, 01 cái hiệu Hoa Việt màu đỏ - xanh, 01 cái hiệu SKLC). Xét vật chứng trên là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật cấm tàng trữ. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

[10]. Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Phạm Võ Ngọc A khai nhận số ma túy mà cả nhóm sử dụng mua của một đối tượng tên Năm ngụ xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng tên Năm theo sự mô tả đặc điểm nhận dạng do Ngọc A cung cấp. Tuy nhiên do dữ liệu thông tin ít, không xác định được nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với bà Trương Thị P1 là chủ quán C: Khi các bị cáo đến sử dụng ma túy tại quán thì bà P1 không biết và không đồng ý cho nhóm Ngọc A sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

[11]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Minh L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[12]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T;
  • Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo T1, Ngọc A, L;
  • Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A và Nguyễn Minh L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

  • Bị cáo Trần Huy Duy T 08 (tám) năm tù.
    Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 04/8/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Xuân T1 08 (tám) năm tù.
    Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 01/02/2024.
  • Bị cáo Phạm Võ Ngọc A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
    Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 01/02/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Minh L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
    Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 01/02/2024.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 328/KL-KTHS chứa nỏ thủy tinh sau giám định, 01 chai nhựa (loại nước Number 1), 01 ống hút nhựa, 03 hộp quẹt (01 cái hiệu VIVA màu vàng, 01 cái hiệu Hoa Việt màu đỏ - xanh, 01 cái hiệu SKLC). (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/9/2024).

Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Minh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Huy Duy T, Nguyễn Xuân T1, Phạm Võ Ngọc A, Nguyễn Minh L, bà Phan Thị Ú có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Các bị cáo;
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND huyện Tân Phú;
  • CQCSĐT Công an huyện Tân Phú;
  • Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger