Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày: 31-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hồng Hải

Ông Trần Trung Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phi Ngọc T (tên gọi khác: Không) sinh ngày 22 tháng 10 năm 2002 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, phường H, quận C, Tp Đà Nẵng. Hiện trú tại: C L, phường H, quận C, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Phi Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị Q (chết). Có vợ là Lường Thị Thùy L, sinh năm 2002 và 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 10/9/2021 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/3/2022; Ngày 09/7/2024 bị Công an quận T, Tp Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lường Thị Thùy L, sinh năm 2002, trú tại: E T, phường H, quận C, Tp Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 19/6/2024, Phi Ngọc T sử dụng ma túy với một số người không rõ lai lịch và có cất giấu một mảnh viên nén ma túy thuốc lắc còn dư sau khi sử dụng trong cốp xe máy BKS 73K1-258.12. Đến 13h30' ngày 27/6/2024, T có lấy gói nilong chứa viên nén ma tuý thuốc lắc đã cất giấu trong cốp xe ra và bỏ vào trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe máy BKS 73K1-258.12 đi công việc. Khi T đi một mình đến trước nhà K đường H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng thì bị Công an phường H kiểm tra, bắt quả tang về hành vi cất giấu chất ma tuý.

Tiến hành khám xét người và phương tiện của Phi Ngọc T thu giữ bên trong túi quần bên phải của T có một gói nilong kích thước 07cm x 04cm mảnh viên nén màu xám, được niêm phong ký hiệu G1. T khai nhận là ma tuý thuốc lắc mà T cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Tiến hành khám xét chỗ ở của Phi Ngọc T tai số nhà C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng không thu giữ đồ vật tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của Phi Ngọc T.

Tại biên bản kiểm tra điện thoại đều không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của Phi Ngọc T.

Ngày 27/6/2024 Công an phường H tiến hành test nước tiểu, xét nghiệm chất ma túý trong cơ thể đối với Phi Ngọc T kết quả: Phi Ngọc T dương tính với chất ma tuý.

Tại Bản kết luận giám định số: 528/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K, Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA, khối lượng mẫu G1: 0,269 gam.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:

  1. 01 bì niêm phong ký hiệu "G1" là Mẫu vật được hoàn trả sau khi giám định được niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng K, Công an T.
  2. 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng IMEI: 354842092409090 của Phi Ngọc T.

Đối với các vật chứng nêu trên chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý.

  1. 01 xe máy Honda SH màu trắng, BKS 73K1 - 258.12. Số khung: RLHJF9500NY159125, số máy: JF95E0174217 là của chị Lường Thị Thùy L là chủ sở hữu. L là vợ của T, xe máy trên được đưa cho T để đi lại, chị L không biết việc Phi Ngọc T sử dụng xe máy để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ngày 10/9/2024 đã trả lại cho chị L.

* Nguyên nhân phạm tội: bị cáo coi thường pháp luật, nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

2

Quá trình điều tra, Phi Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 127/CT- VKS ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Phi Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phi Ngọc T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật được hoàn trả sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói kèm theo được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu “G1” theo Quyết định trưng cầu giám định số 884/GĐ-ĐCSMT ngày 28/6/2024, có đóng dấu đỏ giáp lai của Phòng K, C.
  • - Trả lại cho bị cáo Phi Ngọc T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số Imei 354842092409090, gắn sim số 0762123452, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Phi Ngọc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phi Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

3

Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trước số nhà K H, phường H, quận T, Tp Đà Nẵng, Công an phường H, quận T, Tp Đà Nẵng bắt quả tang Phi Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,269 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích sử dụng.

Do đó hành vi của Phi Ngọc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 127/CT- VKS ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân của các tội phạm khác gây mất an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn phạm tội.

Bị cáo T có nhân thân xấu: Ngày 10/9/2021 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/3/2022; Ngày 09/7/2024 bị Công an quận T, Tp Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Do đó cần phải xét xử nghiêm khắc, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với: Mẫu vật được hoàn trả sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói kèm theo được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu “G1” theo Quyết định trưng cầu giám định số 884/GĐ-ĐCSMT ngày 28/6/2024, có đóng dấu đỏ giáp lai của Phòng K, C, là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số Imei 354842092409090, gắn sim số 0762123452, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với 01 xe máy Honda SH màu trắng, BKS 73K1 - 258.12. Số khung: RLHJF9500NY159125, số máy: JF95E0174217 là của chị Lường Thị Thùy L là chủ sở hữu. L là vợ của T, xe máy trên được đưa cho T để đi lại, chị L không biết

4

việc Phi Ngọc T sử dụng xe máy để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ngày 10/9/2024 đã trả lại cho chị L, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phi Ngọc T, Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Đối với nhóm đối tượng sử dụng ma túy chung với Phi Ngọc T hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Phi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Phi Ngọc T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật được hoàn trả sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói kèm theo được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu “G1” theo Quyết định trưng cầu giám định số 884/GĐ-ĐCSMT ngày 28/6/2024, có đóng dấu đỏ giáp lai của Phòng K, C.
    • - Trả lại cho bị cáo Phi Ngọc T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số Imei 354842092409090, gắn sim số 0762123452, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

    (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Phi Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân q. Thanh Khê;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự CATP. Đà Nẵng;
  • - Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

6

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger