Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày: 30/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha và ông Nguyễn Mạnh Trường.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh T - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN CÔNG S; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990; tại Phú Thọ; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: 5 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1960 và bà Đào Thị T1, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 14/7/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 194/2023/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 23/6/2024, án phí hình sự sơ thẩm và số tiền truy thu đã nộp ngày 06/10/2023.

Về nhân thân:

-Ngày 20/7/2006, bị TAND tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” tại Bản án số 387/2006/HSPT, đặc xá tha tù trước thời hạn ngày 17/01/2009, nộp án phí hình sự ngày 7/11/2006, bồi thường thiệt hại cho bị hại ngày 20/3/2007.

-Ngày 21/3/2018, bị TAND huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/9/2018, nộp án phí hình sự và dân sự ngày 10/5/2018, bồi thường thiệt hại cho bị hại ngày 10/11/2018.

-Ngày 25/12/2018, bị TAND thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 355/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/02/2020, nộp án phí hình sự và dân sự ngày 12/3/2019, bồi thường thiệt hại tháng 12/2018.

-Ngày 24/9/2013, bị Công an phường T, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 27/9/2013.

-Ngày 28/9/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong năm 2017.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/06/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công S: Ông Bùi Văn D1, sinh năm 1983; Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1997; Nơi cư trú: tổ C, ấp E, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt).

- Người làm chứng: Hoàng Xuân T3, ssn 1991; HKTT: ấp V, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Nơi tạm trú: ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23 tháng 6 năm 2024, sau khi chấp hành xong hình phạt tù Nguyễn Công S được ra tù nên S thuê một người đàn ông (không rõ tên, nhân thân, lai lịch) chở từ Trại giam A để đi đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ để S đón xe khách về nhà ở địa chỉ 5 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong lúc chờ xe, do không còn tiền nên S nảy sinh ý định đi vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh B tìm kiếm tài sản của người nào sơ hở nhằm lén lút chiếm đoạt. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi S đi ngang qua phòng A2- Khoa Sản thì S nhìn thấy chị Nguyễn Thị T2 đang nằm ngủ trên giường bệnh, bên cạnh có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh nên S lén lút vào phòng lấy chiếc điện thoại thì bị chị T2 phát hiện truy hô. Lúc này S bỏ chạy ra khỏi phòng thì bị người dân bắt được và bàn giao cho Công an phường T biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Công S đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128 GB, IMEL 357210362129037 máy đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường trị giá 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Công S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm q, s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Công S mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Trách nhiệm dân sự và vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, ngày 28/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị T2 và không có yêu cầu gì về bồi thường nên không đặt ra.

Bị cáo Nguyễn Công S khai nhận hành vi phạm tội; không tranh luận; xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công S - ông Bùi Văn D1: Thống nhất về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã truy tố cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị, do đó không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Theo lời khai của Nguyễn Công S trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khai nhận: Ngày 23 tháng 6 năm 2024, sau khi chấp hành án xong tại Trại giam A, do không có tiền đón xe đi về nhà tại tỉnh Đắk Lắk nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo đi vào trong Bệnh viện đa khoa tỉnh B, tại phòng A2- Khoa Sản của Bệnh viện bị cáo lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128 GB, màu xanh của chị Nguyễn Thị T2 đang để bên trên giường bệnh, ngay sau đó chị T2 phát hiện truy hô và bị cáo bị bắt giữ.

Xét lời khai của Nguyễn Công S phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu - chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; thấy phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ngày 23/6/2024, Nguyễn Công S lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128 GB, màu xanh, trị giá 9.000.000 đồng là đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Nguyễn Công S từ năm 2006 đến nay nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội như giết người, trộm cắp tài sản, sử dụng trái phép chất ma tuý và đã bị Tòa án các địa phương kết án; các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường nhưng không có hướng sửa chữa. Sáng ngày 23/6/2024 khi vừa chấp hành xong hình phạt tù, ra khỏi nơi giam giữ thì tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục cải tạo, xem thường pháp luật, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Tuy nhiên, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk có bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 85/KLGĐ ngày 25/4/2023 của Trung tâm P kết luận Nguyễn Công S bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Trong vụ án này, cơ quan tố tụng đã cử luật sư Bùi Văn D1 bào chữa cho bị cáo, nhưng bị cáo xác định trước, trong và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị T2 bản thân hoàn toàn minh mẫn, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình nên từ chối giám định tâm thần. Do đó, có cơ sở xác định bị cáo ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện và nhận thức có phần hạn chế nên áp dụng điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, ngày 28/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T2, chị T2 không có yêu cầu gì về bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài và Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Nguyễn Công S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Nguyễn Công S 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 23/6/2024.

  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

    Nguyễn Công S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - CCTHADS thành phố Đồng Xoài;
  • - CA thành phố Đồng Xoài (03 bản);
  • - TT LLTP - Sở tư pháp T.Bình Phước;
  • - Phòng PV06 Công an T.Bình Phước;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thu Huệ

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger