TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 147/2024/HSST
Ngày: 23 - 10 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Mai Đức Danh
- Bà: Nguyễn Thị Tân
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/QĐXX- ST, ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Đình P - Sinh ngày 05/5/1990; Số CCCD: [...]; tại phường H, TX. N, Thanh Hóa; Nơi cư trú: TDP N, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đình H1 – sinh năm 1966 và con bà: Lê Thị L – sinh năm 1969; Vợ: Phan Thị Y – sinh năm 1990, có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/6/2012, bị Công an huyện T là Công an T1, Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Hút, tiêm, chích, hít hoặc bằng các hình thức khác để sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 25/7/2012, bị TAND Huyện Tĩnh Gia nay là TAND TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo bản án HSST số 86/2012/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 09/4/2014.
+ Ngày 19/12/2018, bị Công an huyện T là Công an T1, Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Ngày 20/4/2021, bị TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án HSST 25/2021/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 28/8/2021.
Bị cáo tạm giam từ ngày 02/7/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Văn T - Sinh ngày 06/01/1989; Số CCCD: [...]; tại phường H, TX. N, Thanh Hóa; Nơi cư trú: TDP H, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Đ và bà Lê Thị V đều đã chết; Có vợ đã ly hôn, có một con sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/10/2020, bị TAND Thị xã Nghi Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án số 126/2020/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/01/2022.
+ Ngày 14/12/2022, bị TAND Thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 34/2022/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2024.
Nhân thân: Ngày 23/3/2012, bị TAND huyện Tĩnh Gia nay là TAND TX. Nghi Sơn xử phạt 26 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 30/2012/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 16/10/2013.
+ Ngày 27/10/2022, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo tạm giam từ ngày 02/7/2024.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Phan Thị Y – sinh năm 1990
Địa chỉ: TDP N, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Lê Đình P1 – sinh năm 1965
Địa chỉ: TDP Đ, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
+ Đặng Công H2 – sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.
+ Trương Thị B – sinh năm 1993
Địa chỉ: TDP H, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
+ Trần Thị H3 – sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Q, Thanh Hóa.
+ Vũ Thị L1 – sinh năm 1986
Địa chỉ: TDP H, phường H, TX. N, Thanh Hóa
Tại phiên tòa có mặt các bị cáo, chị Y còn lại vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua tin báo của quần chúng nhân dân về vụ việc 02 đối tượng là Lê Văn T và Lê Đình P có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực nghĩa trang K thuộc TDP Đ, phường H, TX. N, Thanh Hóa vào khoảng 15 giờ ngày 06/6/2024. Công an phường H đã xác minh thông tin, triệu tập T và P đến làm việc. Quá trình làm việc, cả hai đều thừa nhận vào khoảng 14 giờ ngày 06/6/2024, do co nhu cầu sử dụng ma túy nên T và P góp được 500.000 đồng để mua 01 gói ma túy Heroin của một người tên H2 ở huyện Q, sau đó cả hai đem ma túy về khu vực nghĩa trang K thuộc địa phận TDP Đ, phường H, TX. N, Thanh Hóa cùng nhau sử dụng. Công an phường H đã thu giữ mẫu nước tiểu của các đối tượng để phục vụ việc giám định và đưa các đối tượng đến Trung tâm Y tế thị xã N xét nghiệm chất ma túy, loại MOP (nhóm thuốc phiện; Heroin, M, O), đồng thời đưa đối tượng đến hiện trường nơi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để kiểm tra. Tại đây, Công an phường H đã phát hiện, thu giữ 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, bên trong có bám dính chất lỏng màu đỏ và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng bị gãy rời phần đầu kim loại, phần đầu kim loại có bám dính chất lỏng màu đỏ (niêm phong lần lượt trong các phong bì ký hiệu T và P).
Xét thấy hành vi của T và P có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 07/6/2024, Công an phường H đã bàn giao hồ sơ và vật chứng vụ án cho Công an thị xã T1 giải quyết theo thẩm quyền.Bản kết luận giám định số 2274/KL- KTHS, ngày 14/6/2024, của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Morphine, Heroine bám dính bên trong bơm kim tiêm của phong bì niêm phong ký hiêu T và P gửi giám định.
Bản kết luận giám định số 2449/KL-KTHS, ngày 27/6/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận: 01 bơm kim tiêm trong phong bì ký hiệu T gửi giám định có tế bào của Lê Văn T; 01 bơm kim tiêm trong phong bì ký hiệu P gửi giám định có tế bào của Lê Đình P.
Bản kết luận giám định số 4359/KL-KTHS ngày 14/6/2024, V1 – Bộ C1 kết luận: Tìm thấy chất ma túy Morphine, C và M trong mâu nước tiểu ký hiệu “P”; Tìm thấy 6- M và các chất ma túy Morphine, C và M trong mẫu nước tiểu ký hiệu “T” gửi giám định. 6- M, M1, C và M là các sản phẩm chuyển hóa của Heroine cơ thể.
Quá trình điều tra Lê Văn T và lê Đình P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 06/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T gọi điện rủ P đi tìm mua ma túy về sử dụng, P đồng ý và hẹn gặp nhau tại Chợ K - H, thị xã N, Thanh Hóa. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh – đen, BKS 36B8 – 191.86, đi tìm T thì gặp T đang điều khiển xe máy đi trên đường. Sau khi gặp nhau do điện thoại hết tiền nên P vào nhà
anh Lê Đình P1 mượn điện thoại có lắp sim số 0352.098.xxx của anh P1 gọi điện cho một người tên H2 ở huyện Q theo SĐT 0978.206.xxx để hỏi mua ma túy, H2 đồng ý và bảo P chuyển tiền trước rồi sẽ chỉ chỗ cất giấu ma túy cho P lấy.
Sau khi liên lạc xong, T gửi xe máy lại nhà anh P1 rồi lên xe cua P đi mua ma túy. Trên đường đi cả hai ghé vào cửa hàng sữa chữa điện thoại của chị Trương Thị B ở TDP H, phường H để nhờ chuyển tiền mua ma túy. Tại đây T đưa cho P 400.000 đồng để góp tiền mua ma túy. Do trước đó P đã đưa cho chị B 200.000 đồng để sửa điện thoại nên P đưa thêm cho chị B 300.000 đồng, tổng là 500.000 đồng nhớ chị B chuyển tới số tài khoản 0978206408 Ngân hàng V2 của Đặng Công H2. Chị B đã chuyển hộ P, tuy nhiên khi chuyển P không nói mục đích chuyển tiền.
Sau khi chuyển tiền, P nạp 20.000 đồng vào tài khoản và gọi điện đến số 0925.533.170 rồi gọi cho H2 thông báo đã chuyển tiền, thì H2 hẹn đến ngã tư C thuộc huyện Q để lấy ma túy. Khi đến nơi hẹn T đứng chờ còn P gọi điện cho H2, thì được chỉ dẫn đến bãi đất trống bên cạnh nghĩa trang L2 huyện Q, gần vị trí T đứng chờ. Tại đây theo sự chỉ dẫn của H2, P tìm thấy phía dưới một hòn đá có giấu một gói ni long màu trắng, bên trong gói giấy có một lớp giấy bạc của bao thuốc lá, biết đây là ma túy H2 cất giấu nên P cầm lấy, sau đó quay ra chở T đi về. Trên đường về đến cửa hàng thuốc của chị Trần Thị H3 ở thôn B, xã T, huyện Q, Thanh Hóa, P vào mua 02 bơm kim tiêm và 02 lọ nước cất để sư dụng ma túy. Do trên đường đi P làm rơi một chiếc bơm kim tiên nên phải vào hiệu thuốc của chị Vũ Thị M2 ở TDP H, phường H, để mua thêm một cái bơm kim tiêm, rồi cả hai đi đến khu vực nghĩa trang K để sử dụng ma túy.
Đối với người tên H2, quá trình điều tra xác định người này tên Đặng Công H2, sinh năm 1973, trú tại: Thôn L, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa. Tuy nhiên quá trình điều tra H2 khai có quen biết với Lê Đình P, P cũng thường xuyên gọi điện cho H2 hỏi có bán ma túy không hoặc có biết ai bán ma túy không, nhưng H2 trả lời không biết. H2 thừa nhận P có chuyển tiền cho P nhưng là tiền Phương nợ H2. Ngoài lời khai của P ra, không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của H2 vì vậy không có cơ sở để xử lý đối với Đặng Công H2.
Đối với anh P1 và chị B, do không biết việc P nhờ liên lạc và chuyển tiền cho H2 là mua ma túy nên không cấu thành tội phạm.
Đối với chị H3 và chị M2 là người đã bán bơm kim tiêm cho P, những người này không biết mục đích của P nên không phạm tội.
Quá trình điều tra các bị cáo đã thật thà, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 158/CT-VKSNS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của VKSND thị
xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX;
- Áp dụng: điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1Điều 51 và Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Văn T.
- - Xử phạt: Bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/7/2024.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Đình P.
- - Xử phạt: Bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/7/2024.
- - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ dụng cụ các bị cáo sử dụng ma túy; Tịch thu bán xung công 01 điện thoại di động N1 và Trả lại cho chị Phan Thị Y một xe mô tô nhãn hiệu Honda Visson BKS: 36B8 – 191.86.
- - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan Điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung khác. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với nội dung truy tố của bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện VKS tại phiên tòa. Vì vậy đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ nhu cầu sử dụng ma túy trái phép nên Lê Văn T và Lê Đình P đã góp được 500.000 đồng mua ma túy loại Heroin và chuẩn bị dụng cụ là bơm kim tiêm,
nước cất đem về khu vực nghĩa trang K thuộc địa phận TDP Đ, phường H, TX. N,Thanh Hóa vào ngày 06/6/2024 về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng số 158/CT-VKSNS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Các Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Do vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 155 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá truy tố là đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án:
Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng mua bán nhỏ lẻ, tổ chức sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà và là một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh thế kỷ HIV cũng vì ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Các bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến lối sống và thuần phong mỹ tục. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy:
Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có bàn bạc, phân công vai trò từ trước nhưng cả hai đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội vì vậy khi lượng hình cần áp dụng Điều 17 và Điều 58 BLHS để lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả các bị cáo gây ra.
Quá trình điều tra các bị cáo đều thật thà, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi lượng hình các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xét về các tình tiết tăng nặng HĐXX thấy: Bản thân bị cáo Lê Văn T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng được áp dụng tình tiết định khung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS nên không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Xét về vai trò của các bị cáo HĐXX thấy: Xuất phát từ nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Lê Văn T đã khởi xướng và rủ Lê Đình P góp tiền mua ma túy về sử dụng cùng, sau khi gặp nhau P lại là người chủ động liên lạc với người bán ma túy để mua vì vậy các bị cáo có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên bị cáo Lê Văn T phạm tội với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm nên phải chịu mức hình phạt theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS còn Lê Đình P chịu mức hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS.
Xét về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bản thân đã nhiều lần bị xử phạt hành chính cũng như bị xét xử về nhiều hành vi phạm tội khác nhau nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận bản thân là người nghiện ma túy nên nghĩ cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, lại bị áp dụng hình phạt tù vì vậy nghĩ không cần áp dụng khoản 5 Điều 255 BLHS làm hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5]. Xét về phần vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo gồm: 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng bên trong có bám dính chất lỏng màu đỏ và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng bị gãy rời phần đầu kim loại, phần đầu kim loại có bám dính chất lỏng màu đỏ. Đây là dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số seri: 353161116475644, bên trong lắp sim điện thoại 0925.533.xxx. Đây là điện thoại P dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu bán xung công.
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh – đen, BKS: 36B8 – 191.86, xe mang tên chị Nguyễn Thị Y1 vợ bị cáo P, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng trong giai đoạn bị
cáo đang đi chấp hành án và là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình bị cáo nên nghĩ cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Y1.
[6]. Về án phí: Các Bị cáo phải nộp án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Văn T.
- - Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Đình P.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T và Lê Đình P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 07 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/7/2024.
- - Lê Đình P 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/7/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong bì ký hiệu T,P và 02 bơm kim tiêm. Tất cả đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H4, Nguyễn Như N và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.
- - Tịch thu bán xung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số seri: 353161116475644, bên trong lắp sim điện thoại 0925.533.xxx.
- - Trả lại cho chị Phan Thị Y, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh – đen, BKS: 36B8 – 191.86, số khung: RLHIK0317MZ035736, số máy: JK03E – 5241983, dung tích: 110cm3, xe đã qua sử dụng (không thu hồi đăng ký).
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại kho của Chi cục THADS thị xã N, Thanh Hóa theo phiếu nhập kho số NK2025/10, ngày 21/10/2024
- Án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- - Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, có mặt chị Y. Các Bị cáo được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Cúc |
Bản án số 147/2024/HSST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 147/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vì vậy đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ nhu cầu sử dụng ma túy trái phép nên Lê Văn T và Lê Đình P đã góp được 500.000 đồng mua ma túy loại Heroin và chuẩn bị dụng cụ là bơm kim tiêm, nước cất đem về khu vực nghĩa trang K thuộc địa phận TDP Đ, phường H, TX. N,Thanh Hóa vào ngày 06/6/2024 về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau.
