TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:147/2024/DS-ST Ngày 06/9/2024 V/v: T/c Hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng và ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 27/6/2024; Quyết định hoãn phiên toà số:67/2024/QĐST -DS ngày 16/7/2024 và Thông báo hoãn phiên toà số 11/TB-TA ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: NGÂN HÀNG TMCP B (B1)
- Trụ sở: Tầng A và tầng 5, tòa nhà C, số A P, quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
- Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thu H – Chức vụ: Giám đốc khối quản lý rủi ro.
- Người được uỷ quyền: Ông Nguyễn Xuân L – Chuyên viên xử lý nợ, Có mặt.
- + Bị đơn: Ông Trần Thanh V, sinh năm 1960.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960.
- Đều trú tại: thôn N, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.
- (Ông V và bà H1 đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện nguyên đơn – Ngân hàng TMCP B trình bày:
Ngân hàng TMCP B cùng ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 đã ký Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016, vay số tiền 831.135.000đồng; Mục đích vay vốn: thanh toán tiền mua ô tô. Thời hạn vay: tháng kể từ ngày giải ngânLãi suất vay: 8%cố định 12 tháng đầu. Thời điểm điều chỉnh lãi suất: định kỳ 06 tháng/lần. Điều chỉnh lãi suất: Bằng lãi suất huy động 13 tháng trả lãi sau do Ngân hàng công bố cộng biên độ (+) tối thiểu 3,5/%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Trả nợ gốc: Gốc được chia đều và trả vào ngày 25 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên ngày 26/9/2016, ngày trả nợ cuối cùng là ngày đến hạn của khế ước nhận nợ.
Trả nợ lãi: Lãi trả vào các ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực tế, kỳ trả nợ lãi đầu tiên 26/9/2016, ngày trả nợ cuối cùng là ngày đến hạn của khế ước nhận nợ.
- Tài sản bảo đảm của các khoản vay: ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP B tài sản là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; số loại: FORTUNER; số khung: 69G6G9017334; số máy: 2TRA143900; Biển số: 30E-074.04 màu đen theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 249126 do Phòng C – Công an thành phố H cấp ngày 31/08/2016 đứng tên ông Trần Thanh V. Tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng: 1047.2016/HĐTC; Quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/9/2016 tại Văn phòng C1 và được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 31/8/2016.
Quá trình sử dụng tiền vay vốn ngân hàng ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền là: 92.300.461đồng; trong đó trả gốc: 55.347.729đồng, trả lãi: 36.952.732đồng. Từ ngày 25/02/2017 đến nay không trả nữa.
Tính đến ngày 06/9/2024, ông V và bà H1 còn nợ Ngân hàng TMCP B tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là: 1.574.994.097đồng. Trong đó: nợ gốc: 775.787.271đồng, nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng, lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
Do ông V và bà H1 đã vi phạm kỳ trả nợ gốc và nợ lãi theo thoả thuận của Hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
- Buộc ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tính đến ngày 06/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016, tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là: 1.574.994.097đồng; trong đó: nợ gốc: 775.787.271đồng, nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng, lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
- Ngoài số tiền nêu trên, ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 còn phải thanh toán các khoản tiền lãi, tiền phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 07/9/2024 đến ngày thanh toán hết các nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP B.
- Trong trường hợp ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 không thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng đề nghị Tòa án cho kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; số loại: FORTUNER; số khung: 69G6G9017334; số máy: 2TRA143900; Biển số: 30E-074.04 màu đen theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 249126 do Phòng C – Công an thành phố H cấp ngày 31/08/2016 đứng tên ông Trần Thanh V. Tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng: 1047.2016/HĐTC; Quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/9/2016 tại Văn phòng C1 và được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm
- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông V và bà H1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
* Bị đơn: ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên toà cũng như quá trình giải quyết vụ án đều vắng mắt: Toà án tiến hành lấy lời khai của ông V và bà H1 ngày 10/4/2024 tại nhà ông V và bà H1 đều thể hiện đã nhận được các văn bản của toà án. Ông bà thống nhất về số tiền vay và mục đích vay tiền của Ngân hàng để thanh toán tiền mua ô tô, thời hạn vay và lãi suất theo thoả thuận của hợp đồng. Thế chấp xe ô tô FORTUNER, Biển kiểm soát: 30E-074.04 cho Ngân hàng TMCP B để đảm bảo khoản vay. Hiện tại xe ô tô trên vẫn còn nguyên hiện trạng, con trai ông bà sử dụng sáng đi tối về, chiếc xe trên vẫn đứng tên ông Trần Thanh V và do vợ chồng ông bà quản lý. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng đến đầu năm 2017, vợ chồng ông bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vợ chồng ông bà xác nhận dư nợ như Ngân hàng khởi kiện là đúng. Do điều kiện kinh tế gia đình hiện nay khó khăn và ông V đang điều trị bệnh ung thư nên rất khó khăn. Ông bà đề nghị cho vợ chồng ông bà trả nợ dần và miễn giảm nợ lãi. Ông V và bà H1 muốn ký biên bản lấy lời khai nhưng con trai là ông bà là anh T1 không đồng ý cho ông bà ký biên bản.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ: Xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp tại nhà ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1: Xe ô tô FORTUNER, Biển kiểm soát: 30E-074.04, nguyên hiện trạng, sơn màu đen, xe loại 07 chỗ ngồi, hiện nay vẫn do ông V và bà H1 quản lý.
Tòa án tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông V và bà H1 đều vắng mặt.
Tại phiên tòa: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông V và bà H1 vắng mặt tại phiên toà.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện hết các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ 2.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B buộc bị đơn ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B tính đến ngày 06/9/2024, tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là: 1.574.994.097đồng. Trong đó: nợ gốc: 775.787.271đồng; nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng; lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
Trường hợp ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phát sinh và các chi phí khác được quy định trong Hợp đồng và khế ước nhận nợ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; số loại: FORTUNER; số khung: 69G6G9017334; số máy: 2TRA143900; Biển số: 30E-074.04 màu đen theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 249126 do Phòng C – Công an thành phố H cấp ngày 31/08/2016 đứng tên ông Trần Thanh V theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng: 1047.2016/HĐTC; Quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/9/2016 tại Văn phòng C1 và được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm.
Về án phí sơ thẩm: Do bị đơn ông V và bà H1 là người trên 60 tuổi nên đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông bà.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng đối với ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 nên thuộc tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 có hộ khẩu thường trú tại: thôn N, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về pháp luật nội dung: Ngân hàng TMCP B yêu cầu ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016, (tính đến ngày 06/9/2024) là: 1.574.994.097đồng; trong đó: nợ gốc: 775.787.271đồng, nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng, lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về hợp đồng: Ngày 31/8/2016, Ngân hàng TMCP B cùng ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng và khế ước nhận nợ về số tiền vay là 831.135.000đồng, thời hạn cho vay: 84 tháng, hạn trả nợ gốc, lãi/kỳ, mục đích vay: thanh toán tiền mua ô tô; lãi suất và hình thức giải ngân hoàn toàn phù hợp với các điều 116, 117, 119 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng N. Xét thấy, tại thời điểm ký kết Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ các bên tham gia ký kết hoàn toàn tự nguyện, có đủ thẩm quyền, đủ năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, hình thức và nội dung hợp đồng cho vay phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng nên Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016 là hợp pháp, có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngân hàng TMCP B đã giải ngân cho ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 số tiền 831.135.000đồng bằng hình thức chuyển khoản. Như vậy, Ngân hàng TMCP B đã thực hiện đúng, xong nghĩa vụ của mình. Về phía bị đơn ông V và bà H1 sau khi được giải ngân đã sử dụng vốn, đồng thời đã thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP B cho đến hết ngày 25/02/2017 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ thỏa thuận trong hợp đồng và khế ược nhận nợ. Tính đến ngày 06/9/2024 ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 đã trả được cho Ngân hàng tổng cộng: 92.300.461đồng; trong đó trả gốc: 55.347.729đồng, trả lãi: 36.952.732đồng.
Tính đến ngày 06/9/2024 ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 còn nợ lại số tiền nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ là: 775.787.271đồng. Theo thỏa thuận tại điểm b khoản 3 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016: Quy định về quyền thu hồi nợ trước hạn: Bên B không hoàn trả nợ gốc, lãi vay theo đúng thời hạn đã cam kết mà không được bên A chấp thuận gia hạn nợ.
Do ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 không thanh toán đúng kỳ trả nợ nên từ ngày 25/02/2017 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Ông V và bà H1 cũng thừa nhận do điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông V bị bệnh nên đề nghị cho trả nợ dần. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả nợ số tiền nợ gốc còn lại: 775.787.271đồng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
[2.3]. Xét, số tiền nợ lãi:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật...”
Xét mức lãi suất trong hạn đối với Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016, các bên thỏa thuận là 8%cố định 12 tháng đầu. Thời điểm điều chỉnh lãi suất: định kỳ 06 tháng/lần. Điều chỉnh lãi suất: Bằng lãi suất huy động 13 tháng trả lãi sau do Ngân hàng công bố cộng biên độ (+) tối thiểu 3,5/%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Như vậy, thỏa thuận trong hợp đồng về lãi suất giữa Ngân hàng với ông V và bà H1 phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Nguyên đơn đã cung cấp các Quyết định về việc ban hành các Biểu lãi suất nên ông V và bà H1 đã có thông tin về việc cho vay và lãi suất cho vay, đã được đảm bảo về quyền lợi theo quy định của pháp luật. Đối chiếu vào Bảng tính lãi (tính đến ngày 14/5/2024) đối với Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016 thì: nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng, lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy lãi suất được tính và điều chỉnh theo từng thời kỳ, phù hợp với lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố đối với loại cho vay tương ứng với các quy định của pháp luật. Đến nay, bị đơn chưa thanh toán nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi trên là có cơ sở chấp nhận.
Do vậy, yêu cầu đòi nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 06/9/2024 của Ngân hàng TMCP B đối với ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 được chấp nhận là: 1.574.994.097đồng; trong đó: nợ gốc: 775.787.271đồng, nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng, lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
[3]. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; số loại: FORTUNER; số khung: 69G6G9017334; số máy: 2TRA143900; Biển số: 30E-074.04 màu đen theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 249126 do Phòng C – Công an thành phố H cấp ngày 31/08/2016 đứng tên ông Trần Thanh V. Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng: 1047.2016/HĐTC; Quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/9/2016 tại Văn phòng C1 và được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 31/8/2016. Xét Hợp đồng thế chấp đã được các bên tự nguyện ký kết và được lập thành văn bản, các bên chủ thể tham gia giao kết là người có thẩm quyền, cùng thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, nội dung của hợp đồng thế chấp không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đồng thời Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp nêu trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành. Vì vậy, Ngân hàng đề nghị phát mại tài sản theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông V và bà H1 không trả được nợ là có căn cứ, hoàn toàn phù hợp với quy định bị xử lý theo Điều 299 của Bộ luật dân sự để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên Tòa hôm nay ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[4]. Về án phí: Bị đơn ông V và bà H1 phải chịu 59.249.913đồng án phí dân sự. Tuy nhiên, ông Trần Thanh V, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
[5]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 241, khoản 2 Điều 292, 293, 299, 317, 320, 322, 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Nghị định số 11/2012/NĐ-Cp ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP.
Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B đối với ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1.
- Buộc ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 299/2016.HĐTD2-BVB023 ngày 31/8/2016 và Khế ước nhận nợ số 299/2016/KUNN2-BVB023 ngày 01/9/2016, tính đến ngày 06/9/2024, tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi phải trả là: 1.574.994.097đồng (Một tỷ năm trăm bảy mươi bốn triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, không trăm chín mươi bảy đồng); trong đó: nợ gốc: 775.787.271đồng, nợ lãi trong hạn: 267.030.399đồng, lãi quá hạn: 532.179.427đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP B theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phát sinh và các chi phí khác được quy định trong Hợp đồng và khế ước nhận nợ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; số loại: FORTUNER; số khung: 69G6G9017334; số máy: 2TRA143900; Biển số: 30E-074.04 màu đen theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 249126 do Phòng C – Công an thành phố H cấp ngày 31/08/2016 đứng tên ông Trần Thanh V. Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng: 1047.2016/HĐTC; Quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/9/2016 tại Văn phòng C1 và được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 31/8/2016. Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP B. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì trả lại cho bên thế chấp.
Khi ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 tất toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 các giấy tờ về tài sản thế chấp và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký.
- Về án phí: Áp dụng Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1.
Trả lại Ngân hàng TMCP B số tiền: 27.000.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0007674 ngày 17/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trần Thanh V và bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Việt Cường |
Bản án số 147/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 147/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH yêu cầu trả nợ
