|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2024 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước
- Bà Võ Tuyết Kha
– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Minh K, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Huỳnh Minh K trình bày:
Về hôn nhân: Anh K và chị D sống chung vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/11/2012. Vợ chồng chị đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay do thường xuyên mâu thuẫn, sống chung không hợp nhau, không thể hàn gắn được. Nay anh K yêu cầu ly hôn chị D.
Về con chung: Anh K và chị D có hai người con chung là Huỳnh Minh T, sinh ngày 16/4/2006 và Huỳnh Phương Y, sinh ngày 06/3/2011. Cháu Minh T đã thành niên nên anh K không yêu cầu Toà án giải quyết, anh yêu cầu giao con chung là Huỳnh Phương Y cho chị D tiếp tục nuôi, anh K không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại Điều 220, 233 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K, cho anh K được ly hôn với chị D.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Phương Y, sinh ngày 06/3/2011 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh K có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Đối với cháu Huỳnh Minh T, sinh ngày 16/4/2006 hiện tại đã thành niên, anh K không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh K phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Anh K khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị D, chị D đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh K và chị D là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Anh K và chị D tự nguyện sống chung từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị D là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, anh K và chị D đã ly thân từ năm 2023, xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng anh K và chị D không sống chung với nhau trong một thời gian dài mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập chị D nhiều lần nhưng chị D vẫn không đến, như vậy chị D đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của anh K và chị D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K, cho anh K ly hôn với chị D.
[4] Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của anh K thì anh K và chị D có hai người con chung là Huỳnh Minh T, sinh ngày 16/4/2006 và Huỳnh Phương Y, sinh ngày 06/3/2011. Đối với cháu T đã thành niên, anh K không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh K yêu cầu giao cháu Y cho chị D tiếp tục nuôi. Chị D đã được Tòa án thông báo yêu cầu về con chung của anh K nhưng chị D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh K. Xét thấy, từ khi anh K và chị D ly thân đến nay, chị D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y. Toà án không liên hệ được để ghi ý kiến của cháu Y. Mặc khác, anh K cho rằng, cháu Y vẫn phát triển tốt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu Y, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K: Giao cháu Huỳnh Phương Y, sinh ngày 06/3/2011 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Anh Huỳnh Minh K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hồng D.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Phương Y, sinh ngày 06/3/2011 cho chị Nguyễn Thị Hồng D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Huỳnh Minh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Huỳnh Minh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh K đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006831 ngày 26/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu án phí. Chị Nguyễn Thị Hồng D không phải chịu án phí.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đẹp |
Bản án số 147/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 147/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
