Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS - ST

Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Vũ Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Hải Phùng
Ông Nguyễn Phan Anh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa Bà Trần Phương Ly

Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thái Ninh – Kiểm sát viên.

Ngày 07/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/HSST ngày 16/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 20/5/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: Vũ Việt A, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số C, tổ A Q; quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Tiến T - sinh năm 1957; Con bà: Nguyễn Thị H - sinh năm 1958; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ, con: Không; D chỉ bản số 198 lập ngày 15/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

  • Anh Phạm Minh T1, sinh năm 2005; Địa chỉ: Số 1 ngõ D phố K, phường G, quận H, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Chị Kiều Phương T2, sinh năm 2003; Địa chỉ: P, chung cư C, ngõ C X, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Bùi Tuấn Đ, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số A N, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Anh Nguyễn K, sinh năm 1996; Địa chỉ: A M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài nên Vũ Việt A (sinh năm 1990; trú tại số C, tổ A, phường Q, quận C, Hà Nội) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/03/2024, Việt A đến cửa hàng C (tại địa chỉ số nhà G phố C, phường L, quận Đ, Hà Nội) rồi đi lên tầng 3. Tại đây, Việt A thấy ở vị trí ghế bên trái gần lối cầu thang đi xuống có 01 chiếc balo tối màu của anh Phạm Minh T1 (sinh năm 2005; trú tại khu F, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; hiện ở tại số nhà I ngõ D phố K, phường G, quận H, Hà Nội). Việt Anh quan sát thấy anh T1 ngồi ở bàn bên cạnh đang tập trung ngồi chơi với bạn, không chú ý quan sát, trông coi chiếc ba lô. Việt Anh lén lút mở khóa chiếc balô lấy ra từ bên trong 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Latitude 7480 màu đen cùng với dây sạc rồi bỏ đi về phía ngã tư đường Đ - Nguyễn Chí T3. Khi đi đến cửa hàng mua bán điện thoại, laptop cũ tại số nhà D đường N, phường N, quận B, Hà Nội, Việt A đã bán chiếc laptop trên cho chủ cửa hàng là anh Bùi Tuấn Đ (sinh năm 2001; trú tại thôn G, xã K, huyện G, Hà Nội) được số tiền 1.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này Việt A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/03/2024, Vũ Việt A quay lại cửa hàng C (tại địa chỉ số nhà G phố C, phường L, quận Đ, Hà Nội) thì bị nhân viên cửa hàng nghi ngờ, báo Công an phường L đến và đưa về trụ sở Công an phường làm việc. Tại Cơ quan Công an, Vũ Việt A đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Việt A khai nhận trước đó đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau: Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 14/02/2024, Việt A đi bộ đến khu vực quán cà phê tại số nhà D tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội thì thấy có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision của chị Kiều Phương T2 (sinh năm 2003; trú tại tổ I, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang) đang dựng trên vỉa hè phía trước quán, trên xe có treo 01 chiếc túi xách da màu xanh có khóa móc hình nộm bông màu xanh dương. Quan sát xung quanh, thấy không có người trông giữ chiếc xe máy nên Việt A tiến lại vị trí chiếc xe rồi dùng tay phải lén lút nhấc chiếc túi xách ra khỏi xe rồi bỏ đi tới khu vực đầu cầu Y (phía bên đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội). Tại đây, Việt A kiểm tra tài sản bên trong thấy có 01 máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Pro 11 2021 màu xám dung lượng 256 GB, kèm ốp; 01 bút điện tử nhãn hiệu Apple Pencil 2 Auth màu trắng; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Kiều Phương T2 và 01 tập tiền nhiều mệnh giá khác nhau với tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Việt A vứt chiếc túi xách cùng thẻ căn cước công dân của chị T2 xuống sông T, các tài sản còn lại thì mang về nhà cất giấu. Việt A dùng thông tin ngày tháng năm sinh trên căn cước công dân của chị T2 (111203) nhập mật khẩu truy cập thành công chiếc máy tính bảng rồi gỡ cài đặt mật khẩu màn hình. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, Việt A mang chiếc máy tính bảng cùng chiếc bút điện tử trên đến cửa hàng máy tính cũ tại số C phố N, phường Y, quận C, Hà Nội bán cho anh Nguyễn K (sinh năm 1996; thường trú tại thôn D, xã S, huyện H, Hà Nội) được số tiền 11.500.000 đồng rồi sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 14/3/2024

của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận:

  • 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Pro 11 2021 màu xám, dung lượng 256Gb, đã qua sử dụng chưa thu hồi định giá 15.456.000 đồng; Chiếc ốp đã qua sử dụng chưa thu hồi chưa đủ cơ sở xác định giá trị;
  • 01 (một) bút điện tử nhãn hiệu Apple Pencil 2 Auth màu trắng, đã qua sử dụng chưa thu hồi định giá 2.352.000 đồng;
  • 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Kiều Phương T2 do Cục Q về trật tự xã hội - Bộ C1 cấp đã qua sử dụng chưa thu hồi phí cấp lại là 70.000 đồng/lần;
  • 01 (một) túi xách da màu xanh bên trên có móc khóa hình nộm bông màu xanh dương, đã qua sử dụng chưa thu hồi chưa đủ cơ sở xác định giá trị.
  • 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 7480 màu đen, vỏ bằng nhựa, ổ cứng 256 Gb, ram 8Gb màn hình 14inch có sạc kèm máy tính, đã qua sử dụng đã thu hồi định giá 4.000.000 đồng.”

Tổng trị giá tài sản Vũ Việt A chiếm đoạt là 22.808.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Khi anh Nguyễn K và anh Bùi Tuấn Đ thỏa thuận mua lại tài sản từ Vũ Việt A thì Việt A đều nói đây là tài sản của mình không sử dụng nữa lên bán lại, anh K và anh Đ không biết nguồn gốc do Việt A trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã thu giữ của anh Bùi Tuấn Đ: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 7480 màu đen, vỏ bằng nhựa, ổ cứng 256 Gb, ram 8Gb màn hình 14inch có kèm sạc.

Đối với các tài sản mà Vũ Việt A trộm cắp của chị Vũ Phương T4 rồi bán cho anh Nguyễn K, anh K đã bán cho khách hàng khác. Anh K không có thông tin của khách hàng này, hiện không thu hồi được tài sản.

Ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 7480 màu đen, vỏ bằng nhựa, ổ cứng 256 Gb, ram 8Gb màn hình 14inch có kèm sạc cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Minh T1.

Trách nhiệm dân sự:

  • Người bị hại là anh Phạm Minh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
  • Ngày 24/4/2024, chị Vũ Phương A1 (sinh năm 1996; thường trú tại số C tổ A, phường Q, quận C, Hà Nội - là em gái của Vũ Việt A) đại diện cho Việt A đã bồi thường cho người bị hại là chị Vũ Phương T4 số tiền 19.000.000 đồng. Chị T4 không có yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Việt A.
  • Đối với anh Bùi Tuấn Đ và anh Nguyễn K: Anh Đ đã được chị Vũ Phương A1 đại diện cho Việt A hoàn trả lại số tiền 1.000.000 đồng, anh Đ không có yêu cầu về bồi thường dân sự; Anh Nguyễn K trình bày không bị thiệt hại gì về tài sản nên không yêu cầu bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 137/CT-VKSĐĐ ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Vũ Việt A về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo Việt A thừa nhận việc bị truy tố về tội “ trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo Vũ Việt A từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 30 đến 36 tháng.

về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Không

Về trách nhiệm dân sự: Không

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa sai lầm khuyết điểm trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra quận Đ đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về bồi thường dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 292 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng. Căn cứ vào kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/3/2024 Vũ Việt A có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 7480 màu đen, vỏ bằng nhựa, ổ cứng 256GB, RAM 8GB, màn hình 14inch có sạc kèm theo của anh Phạm Minh T1 có trị giá là 4.000.000 đồng tại khu vực tầng 3 cửa hàng C-số G phố C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, khoảng 22 giờ 15 phút 14/02/2024, tại Vũ Việt A có hành vi trộm cắp 01 máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Pro 11 2021 màu xám dung lượng 256 GB kèm ốp, 01 bút điện tử nhãn hiệu Apple Pencil 2 Auth màu trắng; 01 căn cước công dân mang tên Kiều Phương T2; số tiền mặt 1.000.000 đồng và 01 chiếc túi xách da màu xanh của chị Kiều Phương T2 trị giá 18.808.000 đồng tại khu vực trước số nhà D tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Hành vi của bị cáo Vũ Việt A đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng lười lao động, thích có tiền để hưởng thụ tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi tội phạm đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “ phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại là chị Kiều Phương T2 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, quá trình điều tra bị cáo đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, đây là lần đầu tiên bị đưa ra truy tố, xét xử, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nhưng các lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện nay bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa thành công dân tốt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đảm bảo phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động để gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Không có

[5] Các vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn K và anh Bùi Tuấn Đ thỏa thuận mua lại tài sản từ Vũ Việt A thì Việt A đều nói đây là tài sản của mình không sử dụng nữa lên bán lại, anh K và anh Đ không biết nguồn gốc do Việt A trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
  2. Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337, Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  3. Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
  4. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  5. Xử phạt: Bị cáo Vũ Việt A 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 24 ( hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/6/2024.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Vũ Việt A tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Vũ Việt A cho UBND phường Q, quận C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Q, quận C, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Việt A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS - ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 147/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger