Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HS-ST

Ngày: 19 -12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường và ông Nguyễn Thanh Sơn.

Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 19/TB-TA ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Cao Thị Tuyết M

sinh năm 1987, nơi sinh: C - An Giang; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T (đã chết) và bà Trần Thị M1, sinh năm 1962; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ ba; chồng tên Lê Văn K, sinh năm 1981, hiện có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Lê Văn K1

sinh năm 1954; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông La Quốc P, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Đặng Thị Mỹ C, sinh năm 1968; Cao Thị Tuyết V, sinh năm 1986; Phạm Thị H, sinh năm 1966; Lê Hoàng N, sinh năm 1982 (những người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Thị Tuyết M sống cùng với gia đình chồng ở tổ A, khóm V, phường N, thành phố C và mở quán cà phê cách đó khoảng 100m. M vừa bán nước, vừa lo việc nội trợ trong gia đình nên biết ông Lê Văn K1 (cha chồng M) cất giữ vàng, tiền trong phòng ngủ và chỗ để chìa khóa mở tủ, do cần tiền điều trị bệnh cho con và trả nợ, M nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Khoảng 04 giờ ngày 29/5/2023, M đang ở quán, thì ông Lê Văn K1 đi tập thể dục, ghé quán uống cà phê. Biết phòng của ông K1 không có người, M liền điều khiển xe mô tô biển số 67Z1-6484 về nhà, lấy chìa khóa, vào phòng của ông K1, mở tủ, lấy 02 miếng vàng (01 miếng 24kara, có khắc hình thần tài; 03 nhẫn vàng (01 nhẫn 24kara, 01 nhẫn 18kara; 01 nhẫn 18kara, đính hột đá màu xanh); 01 bông tai kiểu tiền điếu vàng 18kara, đính hột đá màu xanh và tiền Việt Nam 1.200.000 đồng, cất giấu trong áo khoác đang mặc, điều khiển xe trở về quán nước. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, ông K1 về nhà, phát hiện mất trộm, trình báo Cơ quan Công an, M đầu thú thừa nhận lấy trộm, giao nộp vật chứng.

Qua điều tra, M còn khai nhận: Ngày 24/5/2023, trong lúc Mỹ đang quét dọn, vệ sinh nhà, thấy ông Lê Văn K1 đang xem tivi ở phòng khách, Mỹ lén lấy chìa khóa, mở tủ, lấy 01 nhẫn vàng 24kara, trọng lượng 02 chỉ mang đến tiệm V1, số H, khóm B, phường C, thành phố C bán cho La Quốc P được 11.000.000 đồng. M mua 01 lắc tay vàng 18kara, trọng lượng 2,5 chỉ, giá 8.200.000 đồng, si thành vàng trắng sử dụng; còn lại 2.800.000 đồng, M cất giấu, đã giao nộp Cơ quan Công an. Ông P thừa nhận có mua vàng của Mỹ nhưng không biết tài sản trộm cắp, đã đun nấu thành phẩm và bán cho công ty vàng ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Công an không thu hồi được. (Bút lục số: 122 – 125)

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 miếng vàng (01 miếng 24kara, có khắc hình thần tài, trọng lượng 01 chỉ;
  • - 01 miếng 18kara, trọng lượng 0,045 chỉ);
  • - 03 nhẫn vàng (01 nhẫn 24kara, trọng lượng 02 chỉ;
  • - 01 nhẫn 18kara, đính hột màu đỏ, trọng lượng 1,12 chỉ;
  • - 01 nhẫn 18kara, đính hột đá màu xanh, trọng lượng 0,25 chỉ);
  • - 01 bông tai kiểu tiền điếu vàng 18kara, đính hột đá màu xanh, trọng lượng 0,37 chỉ và tiền Việt Nam 1.200.000 đồng (Cao Thị Tuyết M lấy trộm ngày 29/5/2023).
  • - 01 lắc tay bằng kim loại màu trắng, mặt trong có chữ K.Châu, 18kara, trọng lượng 2,5 chỉ; ti
  • - Tiền Việt Nam 2.800.000 đồng (do Cao Thị Tuyết M lấy trộm nhân vàng ngày 24/5/2023 bán có được).

Căn cứ Giấy kiểm tra tuổi vàng của Công ty cổ phần V2, chi nhánh P1, xác định: 01 miếng kim loại màu vàng 24kara, có khắc hình thần tài, trọng lượng 01 chỉ, được xác định có tuổi vàng là 24kara, trọng lượng 01 chỉ; 01 miếng kim loại màu vàng 18kara, kích thước (0,7 x 0,5) cm, trọng lượng 04 ly 05 dem, được xác định có tuổi vàng là 14kara, trọng lượng 0,045 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng 24kara, trọng lượng 02 chỉ, được xác định có tuổi vàng 23kara, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng 18kara, có đính hột màu đỏ, trọng lượng 01 chỉ 01 phân 02 ly, được xác định có tuổi vàng 14kara, trọng lượng 1,12 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng 18kara, trọng lượng 02 phân 05 ly, có đính hột đá màu xanh, được xác định có tuổi vàng 14kara, trọng lượng 0,25 chỉ; 01 bông tai kiểu tiền điếu bằng kim loại màu vàng 18kara, trọng lượng 03 phân 07 ly, có đính hột đá màu xanh, được xác định có tuổi vàng là 14kara, trọng lượng 0,37 chỉ; 01 lắc tay bằng kim loại màu trắng, mặt trong có chữ K.Châu, 18kara, trọng lượng 2,5 chỉ, được xác định có tuổi vàng 15kara, trọng lượng 2,5 chỉ. (Bút lục 56 – 57)

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 555/KL-ĐG ngày 27/6/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:

  • - 01 miếng vàng 24kara, có khắc hình thần tài, trọng lượng 01 chỉ, trị giá 5.540.000 đồng; 01 miếng vàng 14kara, trọng lượng 0,045 chỉ, trị giá 142.425 đồng; 01 nhẫn vàng 23kara, trọng lượng 2,0 chỉ, trị giá 10.948.000 đồng; 01 nhẫn vàng 14kara, có đính hột màu đỏ, trọng lượng 1,12 chỉ, trị giá 3.544.800 đồng; 01 nhẫn vàng 14kara, có đính hột đá màu xanh, trọng lượng 0,25 chỉ, trị giá 791.250 đồng; 01 bông tai kiểu tiền điếu vàng 14kara, có đính hạt đá màu xanh, trọng lượng 0,37 chỉ, trị giá 1.171.050 đồng (Tài sản Cao Thị Tuyết M lấy trộm ngày 29/5/2023). Tổng cộng 22.137.525 đồng.
  • - 01 nhẫn vàng 24kara, trọng lượng 2,0 chỉ, trị giá 11.080.000 đồng (Tài sản Cao Thị Tuyết M lấy trộm ngày 24/5/2023). (Bút lục số: 63 – 64)

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C khởi tố Cao Thị Tuyết M để điều tra, xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 128/CT-VKS-CĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Cao Thị Tuyết M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng công bố. Bị cáo thống nhất với các ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, để được tiếp tục chăm sóc cho cha chồng là bị hại ông Lê Văn K1, bà N1 chồng đã lớn tuổi và đứa con đang lọc thận mỗi tháng phải đi bệnh viện điều trị.

Bị hại ông Lê Văn K1 xác định số tài sản mà Mỹ lấy trộm là thuộc quyền sở hữu của ông K1. Mỹ là con dâu sống chung trong gia đình; mọi việc trong gia đình đều do M lo; bản thân ông K1 bị bệnh nên sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và mẹ ruột của ông K1 rất lớn tuổi không có khả năng đi lại nên ăn uống, sinh hoạt đều do M chăm sóc. Ngoài ra M còn có đứa con nhỏ bị bệnh thận nên phải đi điều trị ở bệnh viện hàng tháng. Từ trước đến nay, trong gia đình chưa hề mất trộm, khi M cần tiền đều hỏi và ông K1 kêu vợ chồng M tự vào tủ để lấy. Cho nên số vàng, tiền mà ông K1 tiết kiệm được điều dùng vào việc điều trị bệnh cho con của M nên ông K1 không nghĩ rằng Mỹ lấy trộm. Nay mọi việc đã đổ vỡ đến chính quyền, đến Tòa án chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho M để Mỹ còn phải tiếp tục phải chăm sóc cho ông K1, cho mẹ ruột của ông K1 và con của M đang bị bệnh hiểm nghèo. Nếu Hội đồng xét xử bắt giam Mỹ thì gia đình ông K1 thật sự không ai chăm lo, rất khó khăn. Hơn nữa, tài sản Mỹ lấy trộm đã giao trả toàn bộ lại cho ông K1 và không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm dân sự.

Chủ tọa công bố lời khai của những người vắng mặt, những người làm chứng, liên quan Đặng Thị Mỹ C, Cao Thị Tuyết V, Phạm Thị H, Lê Hoàng N, La Quốc P.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú (bị cáo tự khai ra lần phạm tội ngày 24/5/2023); đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế là các tình tiết trên được quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 32 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn K1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

  • - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  • - Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Cao Thị Tuyết M đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả tội phạm gây ra cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Cao Thị Tuyết M đã hai lần lấy trộm tài sản của Lê Văn K1 vào các ngày 24/5/2023 và ngày 29/5/2023. Giá trị tài sản lấy trộm vào ngày 24/5/2023, 01 nhẫn vàng 24kara, trọng lượng 02 chỉ (trị giá 11.080.000 đồng) và giá trị tài sản lấy trộm vào ngày 29/5/2023 là 22.137.525 đồng). Tổng giá trị tài sản Mỹ đã trộm của ông K1 là 33.217.525 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lén lút chiếm đoạt tài sản của công dân giá trị trên 2.000.000 đồng nhưng chưa đến 50.000.000 đồng với lỗi cố ý trực tiếp vì động cơ tư lợi, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đối với bị cáo tại phiên tòa về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú (bị cáo tự khai ra lần phạm tội ngày 24/5/2023); đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Bên cạnh đó, bị cáo còn có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có cuộc sống gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện nay đang nuôi bà N1 chồng tuổi già (93 tuổi) và nuôi ba chồng (ông Lê Văn K1 là bị hại trong vụ án), nuôi con nhỏ mắc bệnh hiểm nghèo (đang lọc thận) đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy bị cáo có một tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Từ những tình tiết nêu trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ Luật Hình sự năm 2015 và Điều 2 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và mang ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục cho người phạm tội biết thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả thì sẽ được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian tự cải tạo, sửa đổi bản thân, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn K1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét.

[8] Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: La Quốc P mua tài sản do Cao Thị Tuyết M bán, không biết do trộm cắp mà có, tuy không xử lý, nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa là phù hợp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Cao Thị Tuyết M phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Bị cáo Cao Thị Tuyết M 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, được tính kể từ ngày tuyên án 19/12/2023.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Cao Thị Tuyết M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Thi hành án DS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 147/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: C.T.T.M phạm tội TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger