TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 147/2023/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh;
Ông Vũ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/HSST-QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị Hằng N; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày: 12/4/1989, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu A, phường C, H, Quảng Ninh; nơi ở: số nhà E, tổ C, khu D, phường H, H, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; họ và tên bố: Phạm Đức M, sinh năm 1965 (đã chết); họ và tên mẹ: Trần Thanh T, sinh năm 1966 (đã chết); họ và tên chồng: Vi Văn T1, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Vũ Trí T2, sinh năm 1985 (đã ly hôn), hiện đang chung sống như vợ chồng với Hoàng Ngọc S, sinh năm 1988 (hiện đang bị tạm giam về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý); có 02 con, lớn 16 tuổi, nhỏ 10 tuổi; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 09/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Đặng Duy M1 - Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: anh Trần Hải T3, sinh năm 1987; chị Triệu Mai A, sinh năm 1998; chị Giáp Thị Mai L, sinh năm 1998; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị Hằng N chung sống như vợ chồng với Hoàng Ngọc S (sinh năm 1988) tại phường H, thành phố H. Ngày 2/6/2023, S bị Công an tỉnh Q bắt về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi S bị bắt, N đã liên lạc với những người bán ma túy có tài khoản Telegram lưu trong danh bạ tài khoản Telegram của S, để mua ma túy bán kiếm lời.
Ngày 10/7/2023 và ngày 01/8/2023, N đến mua của người đàn ông không rõ lai lịch tên “Kẹo” 02 túi Ketamine giá 800.000 đồng tại Xí nghiệp nước phường H, thành phố H, Nga còn điện thoại qua ứng dụng Telegram và sang khu vực đường tàu thuộc thành phố Hải Phòng mua 50 gam ma túy Ketamine giá 50.000.000 đồng, 19 túi ma túy nước vui giá 37.050.000 đồng, 100 viên ma túy thuốc lắc màu xám giá 16.000.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ. Sau đó, N mang số ma túy trên về nơi ở của N chia nhỏ và đóng vào các túi nilon để bán kiếm lời. Trong đó, N đã 04 lần bán cho Trần Hải T3 (sinh năm 1987, trú tại Tổ 1b, Khu 7b, phường H, thành phố H) và Triệu Mai A (sinh năm 1998, trú quán số nhà C, đường L, phường H, thành phố H), cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: khoảng chiều ngày 01/8/2023, Triệu Mai A gọi điện thoại cho N hỏi mua 1.000.000 đồng tiền Ketamine, N đồng ý và chuẩn bị 01 túi Ketamine 0,4 gam, đồng thời hẹn Mai A đến gần đầu ngõ nơi ở tại khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để nhận ma túy. Khi gặp nhau, Mai A đưa cho N 1.000.000 đồng, N đưa cho Mai A túi ma túy Ketamine 0,4 gam.
- Lần thứ hai: khoảng 18 giờ ngày 03/8/2023, Triệu Mai A gọi điện thoại cho N hỏi mua 02 viên ma túy thuốc lắc, N đồng ý bán, báo giá 900.000 đồng, đồng thời bảo Mai A đến đầu ngõ để giao dịch. Khi gặp nhau, Mai A đưa cho N 900.000 đồng, N đưa cho Mai A 02 (hai) viên ma túy thuốc lắc loại màu xám, cùng loại với sổ thuốc lắc bị thu giữ khi khám xét. Khối lượng trung bình 01 viên nén là 0,448 gam, nên khối lượng 02 viên nén N đã bán là 0,896 gam.
- Lần thứ ba: khoảng 17 giờ chiều ngày 10/7/2023, T3 gọi điện cho N hỏi mua 1.000.000 đồng tiền Ketamine, N yêu cầu T3 thanh toán tiền vào tài khoản ngân hàng số 21570666666 Ngân hàng S1 của N2. Nhận được tiền, N hẹn T3 đến khu vực đầu đường thuộc phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để nhận ma túy. Khi gặp nhau, N đã đưa cho T3 gói giấy vệ sinh màu vàng bên trong có 01 (một) túi nilon Ketamine 0,4 gam.
- Lần thứ tư: khoảng 16 giờ chiều ngày 03/8/2023, T3 tiếp tục gọi điện cho N hỏi mua 1.000.000 đồng tiền Ketamine. N đã bán 01 túi Ketamine 0,4 gam cho T3 và nhận lại 1.000.000 đồng từ T3 tại khu vực đầu đường P, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Đến khoảng 18 giờ 10 phút ngày 9/8/2023, tại tổ B, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh Q bắt quả tang Phạm Thị Hằng N, đang tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán. Vật chứng thu giữ: Thu trên tay trái của N2 01 túi ni-lon chứa 03 viên nén kết quả giám định là ma túy loại MDMA có khối lượng 1,348 gam; 01 túi ni-lon chứa chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,869 gam.
(Kết luận giám định số 1178/KL-KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị Hằng N, tại số nhà E, tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vật chứng thu giữ trong tủ quần áo: 01 túi ni-lon, bên trong chứa 91 viên nén màu xám không rõ hình dạng, kết quả giám định là ma túy loại MDMA có khối lượng 40,808 gam; 53 túi ni-lon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng 30,174 gam; 09 túi ni-lon bên trong chứa chất bột màu cam, tổng khối lượng là 8,975 gam, kết quả giám định tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Cocaine, Ketamine, trong đó có: 0,3 gam Methamphetamine; 1,633 gam MDMA; 0,133 gam Cocaine và 1,653 gam Ketamine; 01 túi ni lon bên trong chứa chất bột màu xám khối lượng 0,823 két quả giám định tìm thấy chất ma túy MDMA, Ketamine, trong đó có: 0,186 gam MDMA, 0,014 gam Ketamine.
(Kết luận giám định số 1178/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q và Kết luận giám định số 6929/KL- KTHS ngày 13/10/2023 của V Bộ C)
Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 10/7/2023 đến ngày 09/8/2023, Phạm Thị Hằng N đã có hành vi 04 lần bán trái phép tổng cộng 1,2 gam ma túy Ketamine và 0,898 gam ma túy MDMA để kiếm lời; tàng trữ trái phép 43,975 gam MDMA, 32,71 gam Ketamine, 0,3 gam Methamphetamine và 0,133 gam Cocaine, mục đích để bán, thì bị Công an tỉnh Q bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Tổng số ma túy Phạm Thị Hằng N đã bán và tàng trữ nhằm mục đích để bán trái phép 45,306 gam Methamphetamine, MDMA, Cocaine và 33,91 gam Ketamine.
Vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ trong vụ án: Số ma tuý thu giữ hoàn lại sau giám định; 03 điện thoại di động (01 Iphone màu tím, 01 Nokia, 01 Redmi), 03 sim và 01 cân điện tử, 40 vỏ túi ni-lon, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thị Hằng N, chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số: 160/CT-VKSQN-P1 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, truy tố Phạm Thị Hằng N, về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh N1 giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Hằng N từ 16 đến 17 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; truy thu số tiền bị cáo thu lời bất chính 2.380.000 đồng.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ hoàn lại sau giám định, 02 sim điện thoại, 40 vỏ túi ni-lon và 01 cân điện tử. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 02 điện thoại di động (01 Iphone, 01 Nokia); Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Redmi (đã qua sử dụng), 01 sim điện thoại và 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thị Hằng N.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Việc truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đánh giá nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh rất éo le; Viện kiểm sát đã đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo; do đó đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá đúng bản chất của vụ án xử phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; xử phạt cho bị cáo 15 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Hằng N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Biên bản khám xét, Kết luận giám định, Biên bản kiểm tra điện thoại, Biên bản nhận dạng, Sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ chứng minh khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: từ ngày 10/7/2023 đến ngày 09/8/2023, Phạm Thị Hằng N đã có hành vi 04 lần bán trái phép tổng cộng 1,2 gam ma túy Ketamine và 0,898 gam ma túy MDMA cho Trần Hải T3, Triệu Mai A để kiếm lời; tàng trữ trái phép 43,975 gam MDMA, 32,71 gam Ketamine, 0,3 gam Methamphetamine và 0,133 gam Cocaine nhằm mục đích để bán thì bị Công an tỉnh Q bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Tổng số ma túy Phạm Thị Hằng N đã bán và tàng trữ nhằm mục đích để bán trái phép 45,306 gam Methamphetamine, MDMA, Cocaine và 33,91 gam Ketamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Thị Hằng N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là chất độc hại nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức và chứa chấp việc sử dụng trái phép. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy là một trong nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, xâm hại tới sức khỏe của con người, làm mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do động cơ tư lợi, hám lời và không làm chủ được bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép ma túy để bán. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Phạm Thị Hằng N chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về Vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ hoàn lại sau giám định, 03 sim điện thoại, 40 vỏ túi ni-lon. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 02 điện thoại di động (01 Iphone, 01 N3), và 01 cân điện tử; Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Redmi (đã qua sử dụng), 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thị Hằng N.
[7] Về số tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có: truy thu số tiền 1.900.000 đồng của Phạm Thị Hằng N được lợi do bán ma túy cho Triệu Mai A. Truy thu số tiền 2.000.000 đồng của Phạm Thị Hằng N được lợi do bán ma túy cho Trần Hải T3.
[8] Án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Áp dụng: điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Hằng N 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
Truy thu sung Ngân sách Nhà nước đối với số tiền thu lời bất chính của bị cáo Phạm Thị Hằng N: 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ hoàn lại sau giám định, 03 sim điện thoại, 40 vỏ túi ni-lon. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 02 điện thoại di động (01 Iphone, 01 N3), và 01 cân điện tử.
Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Hằng N: 01 điện thoại di động hiệu Redmi (đã qua sử dụng), và 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thị Hằng N.
(Tình trạng cụ thể các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 36 ngày 19/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Thị Hằng N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trí Chinh |
Bản án số 147/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 147/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pham Thi Hang N
