|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 - 6 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoài Phong
Ông Châu Trung Trực
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông La Hoàng H, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Bé T, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông La Hoàng H và bà Trần Bé T thống nhất trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2000, ông H và bà T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống, hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà T. Bà T đồng ý ly hôn với ông H vì xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn.
- Về con chung: Có hai con chung La Trúc L, sinh ngày 08/4/2001 và La Duy N, sinh ngày 18/02/2008. Cháu La Trúc L đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu La Duy N có nguyện vọng sống cùng ai thì người đó nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H và bà T thống nhất tự thỏa thuận phần tài sản chung, nợ chung xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Do điều kiện công việc đi lại khó khăn nên ông H và bà T yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông La Hoàng H và bà Trần Bé T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Ông H và bà T chung sống vào năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, bất đồng đồng quan điểm, mỗi người có cuộc sống riêng không còn ai quan tâm đến ai và không ai mong muốn hàn gắn hôn nhân.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì “Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...”. Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử không xem xét nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn hay ông, bà đồng ý ly hôn với nhau không mà căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa các đương sự là phù hợp.
[3] Về con chung: Khi ly hôn cha mẹ đều có nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối với cháu La Trúc L đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp. Đối với cháu La Duy N, ông H và bà T đều yêu cầu theo nguyện vọng của con chung. Tại văn bản ý kiến của cháu N thể hiện cháu có nguyện vọng được sống tiếp tục cùng ông H để thuận tiện cho việc học. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung La Duy Nguyễn cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét là phù hợp.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông H và bà T đều xác định tự thỏa thuận phần tài sản chung, về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là đúng quy định.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông La Hoàng H và bà Trần Bé T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông La Hoàng H phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001337 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (đã nộp xong).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 147/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 147/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
