Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 147/2023/HS-ST

Ngày 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thanh Phương;

Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích;

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Khánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2023/TLST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T;

Tên gọi khác: Không, sinh ngày 02/02/1980 tại Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ A, phường K, TP L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Hồng K sinh năm 1943 (đã chết) và bà Đoàn Thị S sinh năm 1959; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 03 (Bản án số 55 ngày 05/8/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 12/8/2003 bị cáo chấp hành xong phần án phí. Ngày 04/4/2008 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương, tính đến nay chưa được xóa án tích; Bản án số 54 ngày 30/9/2012 Tòa án nhân dân huyện Bát Xát xử phát bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 29/11/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Ngày 28/12/2012 chấp hành xong phần án phí, tính đến nay chưa được xóa án tích; Bản án số 72 ngày 30/6/2016 Tòa án nhân dân TP Lào Cai xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 16/8/2016 bị cáo chấp hành xong phần án phí. Ngày 27/3/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, tính đến nay chưa được xóa án tích); Nhân thân xấu: Bị cáo 02 lần bị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2010, 2011; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2023. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/8/2023, bị cáo Vũ Ngọc T một mình đứng tại khu vực trước cửa khẩu quốc tế L thì này sinh ý định tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Bị cáo Vũ Ngọc T một mình thuê xe ôm của một người nam giới không quen biết đến khu vực dốc K đường N, tổ E, phường L để tìm mua ma túy. Khi đến nơi bị cáo đi bộ thêm 200m thì gặp một người đàn ông không quen biết đứng một mình ở ven đường hỏi mua được 01 gói bên trong có 02 gói nhỏ ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo mang vào khu vực công viên H để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Thành phố L kiểm tra. Quá trình kiểm tra trước sự chứng kiến của bà Phạm Thị Thùy H (Sinh năm 1964; Trú tại tổ E, phường L, thành phố L). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 04/8/2023 và bản kết luận giám định số 265/KL - GĐMT ngày 07/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số ma túy thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc T có khối lượng 0,15 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine;

Cáo trạng số 143/CT-VKSTPLC ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Ngọc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Ngày 03/8/2023 bị cáo Vũ Ngọc T có hành vi tàng trữ ma túy, theo kết luận giám định số 265/GĐMT ngày 07/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, số ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,15 gam là loại chất ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang. Bản án số 72 ngày 30/6/2016 Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tính đến nay chưa được xóa án tích. Bản án đã áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Vũ Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

[3] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy đã 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2010, 2011. Bị cáo có 03 tiền án đến nay chưa được xóa án tích.

Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ tổng cộng 0,15 gam Heroine sau khi trích mẫu giám định còn lại 0,10 gam Heroine đã được tái niêm phong theo quy định của phòng K1 công an tỉnh L. Xét thấy Heroine thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.

[7] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với người nam giới đã chở Vũ Ngọc T đi mua ma túy và người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không điều tra làm rõ được, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau. HĐXX xét thấy là phù hợp.

[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và hình phạt, về vật chứng là phù hợp.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ ngày 03/8/2023.

  3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Tịch thu tiêu hủy 0,10 gam chất ma túy heroine cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của phòng KTHS - Công an tỉnh L. Trên một mặt bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Vũ Ngọc T ngày 03/8/2023 tại tổ E, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai”;

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự TP Lào Cai và Cơ quan CSĐT- Công an T)

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vũ Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND TP Lào Cai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Lào Cai;
  • - Nhà tạm giữ Công an Lào Cai;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai;
  • - Lưu HS; TA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Anh

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Bích Trần Thanh Phương

Hà Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 147/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger